Luật Dân số và những vấn đề đặt ra trong tổ chức thực hiện
Luật Dân số năm 2025 tạo hành lang pháp lý quan trọng để chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Để những chính sách mới đi vào cuộc sống, yêu cầu đặt ra là phải giải quyết đồng bộ các vấn đề về nguồn lực, năng lực cung cấp dịch vụ, đội ngũ cơ sở và sự phối hợp giữa các ngành, địa phương.
Chuyển trọng tâm sang dân số và phát triển
Luật Dân số số 113/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 được ban hành trong bối cảnh công tác dân số nước ta đứng trước nhiều thách thức dài hạn. Mức sinh giảm dưới mức sinh thay thế, từ 2,11 con/phụ nữ năm 2021 xuống 1,91 con/phụ nữ năm 2024 và ở mức 1,93 con/phụ nữ năm 2025. Cùng với đó, già hóa dân số diễn ra nhanh, mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn ở mức cao, chất lượng dân số giai đoạn đầu đời còn hạn chế, nhất là tại vùng sâu, vùng xa.
Những vấn đề này đặt ra yêu cầu nhìn nhận công tác dân số trong mối quan hệ tổng thể với phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách dân số phải đồng thời giải quyết các vấn đề về mức sinh, cơ cấu dân số, chăm sóc người cao tuổi và nâng cao chất lượng dân số.
Bước chuyển quan trọng của Luật Dân số là lấy con người làm trung tâm, tôn trọng quyền tự quyết của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng về thời điểm sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Nhà nước đồng hành thông qua việc tạo lập môi trường thuận lợi, hỗ trợ người dân sinh con, nuôi dạy con và chăm sóc sức khỏe trong suốt vòng đời.

Để góp phần duy trì mức sinh thay thế, Luật quy định tăng thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ sinh con thứ hai lên 7 tháng; hỗ trợ tài chính cho một số nhóm phụ nữ; ưu tiên tiếp cận nhà ở xã hội cho người có từ hai con đẻ trở lên. Đây là những chính sách hướng tới tháo gỡ các khó khăn thực tế của gia đình trẻ, từ thời gian chăm sóc con đến áp lực kinh tế và điều kiện nhà ở.
Tuy nhiên, tại các đô thị và vùng có mức sinh thấp, quyết định sinh con còn chịu tác động của chi phí nuôi dạy, áp lực công việc, xu hướng kết hôn muộn và thiếu dịch vụ chăm sóc trẻ em phù hợp. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần được triển khai cùng các chính sách lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và chính sách khác để gia tăng tỷ lệ sinh, đạt mức sinh thay thế bền vững.
Thu hẹp khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ
Một trong những yêu cầu lớn khi tổ chức thực hiện Luật Dân số là bảo đảm người dân được tiếp cận các dịch vụ nâng cao chất lượng dân số, nhất là phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.
Theo bà Đặng Quỳnh Thư, Phó Cục trưởng Cục Dân số, phụ nữ mang thai và trẻ em tại vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo hay hộ nghèo thường gặp nhiều trở ngại về địa hình, giao thông, hoàn cảnh kinh tế và tiếp cận an sinh xã hội. Điều 21 Luật Dân số và Nghị định số 168/2026/NĐ-CP đã quy định chính sách hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước cho sàng lọc trước sinh và sơ sinh.
Về lộ trình, từ ngày 1/7 đến ngày 31/12/2026, chính sách hỗ trợ miễn phí gói dịch vụ sàng lọc trước sinh 4 bệnh cơ bản và sàng lọc sơ sinh 5 bệnh cơ bản được thực hiện đối với phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, bảo trợ xã hội và người dân vùng khó khăn. Từ ngày 1/1/2027, chính sách hỗ trợ gói dịch vụ sàng lọc cơ bản được mở rộng tới tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh trên toàn quốc.
Chương trình mục tiêu quốc gia đặt chỉ tiêu đến năm 2030 có 70% phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh ít nhất 4 bệnh và 90% trẻ sơ sinh được sàng lọc ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến. Để thực hiện mục tiêu này, việc mở rộng đối tượng thụ hưởng cần gắn với bồi dưỡng năng lực y tế cơ sở, bổ sung thiết bị chuyên môn và hoàn thiện mạng lưới cung cấp dịch vụ.
Thực tế, nguồn hỗ trợ tài chính chỉ là một trong những điều kiện giúp người dân tiếp cận dịch vụ sàng lọc trước sinh và sơ sinh. Khoảng cách địa lý, năng lực chuyên môn và trang thiết bị của cơ sở y tế vẫn là những trở ngại cần được giải quyết đồng thời. Do đó, tổ chức thực hiện chính sách phải gắn với điều kiện cụ thể của từng địa bàn, ưu tiên những nơi người dân còn khó tiếp cận dịch vụ.
Già hóa dân số nhanh cũng đặt ra yêu cầu sớm chuyển đổi phương thức chăm sóc người cao tuổi. Theo TS. Phạm Vũ Hoàng, Phó Cục trưởng Cục Dân số, năm 2025, Việt Nam có khoảng 14,8 triệu người cao tuổi, chiếm 14,5% dân số và dự báo bước vào thời kỳ “dân số già” vào năm 2034 (Cục Thống kê, Dự báo Dân số Việt Nam 2024-2074).
TS. Phạm Vũ Hoàng cho biết, Điều 17 Luật Dân số quy định chính sách thích ứng với già hóa dân số, yêu cầu chuyển từ tư duy gia đình tự chăm sóc sang mô hình phối hợp, chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp và gia đình. Mỗi cá nhân cũng cần chủ động chuẩn bị cho tuổi già từ khi còn trẻ về sức khỏe, tài chính, nâng cao kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; xây dựng các mối quan hệ xã hội tích cực và chuẩn bị tâm thế cho cuộc sống khi tuổi cao. Đồng thời, khuyến khích gia đình, cộng đồng tham gia chăm sóc người cao tuổi, nâng cao ý thức chủ động thích ứng với già hóa dân số.
Qua đó, người cao tuổi được theo dõi sức khỏe, phục hồi chức năng và tham gia sinh hoạt tinh thần thuận tiện ngay tại nơi cư trú; đồng thời giảm bớt áp lực chăm sóc dài hạn cho gia đình. Việc triển khai mô hình này cũng cho thấy thích ứng với già hóa dân số cần được cụ thể hóa bằng các dịch vụ gần dân, phù hợp với nhu cầu chăm sóc trong cộng đồng.
Bảo đảm nguồn lực, củng cố lực lượng cơ sở
Cùng với những chính sách mới, tổ chức thực hiện Luật Dân số đang đối diện với sự khác biệt lớn về điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm dân số và khả năng bố trí nguồn lực giữa các địa phương. Kinh phí dành cho công tác dân số tại nhiều tỉnh, thành phố còn hạn chế, chưa đáp ứng ngay yêu cầu hỗ trợ mở rộng.
Trong bối cảnh đó, Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 có vai trò quan trọng trong bảo đảm nguồn lực tài chính, đầu tư trang thiết bị, đào tạo nhân lực và cung cấp dịch vụ cho các nhóm ưu tiên. Việc kết hợp giữa hành lang pháp lý của Luật và nguồn lực của Chương trình là điều kiện để các chính sách được triển khai từ Trung ương đến cơ sở.
Bên cạnh kinh phí cung cấp dịch vụ, cần quan tâm củng cố đội ngũ trực tiếp thực hiện công tác dân số. Mức hỗ trợ thù lao cho cộng tác viên tại nhiều địa phương còn thấp, thiếu tính bền vững và chưa thống nhất, ảnh hưởng đến động lực của lực lượng thường xuyên bám địa bàn, nắm bắt nhu cầu và vận động người dân.
Thực tiễn tại TP. Cần Thơ cho thấy sự chủ động của địa phương trong giải quyết vấn đề này. Thành phố tuyển chọn 4.120 cộng tác viên dân số và ban hành Nghị quyết số 28/2026/NQ-HĐND, quy định hỗ trợ thù lao hàng tháng bằng 0,5 mức lương cơ sở/người, cùng 90.000 đồng/người/tháng phục vụ cập nhật dữ liệu số và truyền thông.
Việc củng cố lực lượng cơ sở cần đi cùng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và kỹ năng số. Khi công tác dân số mở rộng sang nhiều nội dung, đội ngũ thực hiện cũng cần được trang bị năng lực phù hợp để tư vấn, truyền thông và kết nối người dân với dịch vụ.
Đưa Luật Dân số vào cuộc sống còn đòi hỏi đổi mới nhận thức của cả bộ máy quản lý và người dân. Sự chuyển đổi sang cách tiếp cận dân số và phát triển cần được thể hiện trong kế hoạch, cách phân bổ nguồn lực và phương thức phối hợp giữa các ngành.
Truyền thông cần hướng tới chuyển đổi hành vi, giúp người dân hiểu lợi ích của việc sinh đủ hai con, khám sức khỏe trước khi kết hôn, sàng lọc trước sinh, sơ sinh và chủ động chuẩn bị cho tuổi già. Đồng thời, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, không lựa chọn giới tính thai nhi và chăm sóc sức khỏe sinh sản có trách nhiệm.
Tuy nhiên, vận động chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng điều kiện thực hiện. Khuyến khích sinh con phải gắn với triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp toàn diện về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và chính sách khác. Vận động sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh phải gắn liền với hệ thống dịch vụ dễ tiếp cận. Khuyến khích, hướng dẫn chuẩn bị cho tuổi già phải đi đôi với việc phát triển mạng lưới chăm sóc người cao tuổi và an sinh xã hội phù hợp, bám sát các mục tiêu chiến lược của Luật Dân số.
Bởi vậy, các địa phương cần lồng ghép chính sách dân số với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nhà ở xã hội, giáo dục mầm non, việc làm và môi trường lao động. Đồng thời, tăng cường phối hợp liên ngành, chuẩn hóa dữ liệu dân số, nâng cao năng lực quản lý và thường xuyên kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện.
Luật Dân số đã tạo cơ sở pháp lý cho những thay đổi dài hạn. Để các chính sách mang lại kết quả thực chất, từng nhiệm vụ cần được bảo đảm bằng nguồn lực, đội ngũ và dịch vụ cụ thể, lấy khả năng tiếp cận và sự thụ hưởng của người dân làm trọng tâm.

