Lựa chọn công nghệ phù hợp cho nhà máy Điện hạt nhân
Lựa chọn công nghệ nào cho nhà máy Điện hạt nhân (ĐHN) đang là vấn đề được nhiều chuyên gia quan tâm. Để phần nào giải đáp vấn đề này, từ ngày 14 - 17.5 tại Hà Nội, Viện Năng lượng nguyên tử, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Công Thương phối hợp tổ chức Triển lãm quốc tế lần thứ 3 về ĐHN với chủ đề “Hướng đến nhà máy ĐHN đầu tiên ở Việt Nam”. Nhân dịp này, chúng tôi đã trao đổi với VIỆN TRƯỞNG VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VƯƠNG HỮU TẤN.
PV: Thưa Viện trưởng, dự kiến công nghệ nào sẽ được lựa chọn cho nhà máy ĐHN đầu tiên của nước ta?
VT VƯƠNG HỮU TẤN: Theo kế hoạch thì tháng 5.2009 sẽ trình Quốc hội báo cáo khả thi về xây dựng nhà máy ĐHN. Trong quá trình lựa chọn công nghệ, các cơ quan tư vấn đã phân tích ba dòng công nghệ chính là lò nước áp lực, lò nước sôi và lò của Canada. Đây là các dòng công nghệ thương mại nhưng báo cáo đầu tư cũng chưa đưa ra lựa chọn cụ thể công nghệ nào. Sự lựa chọn công nghệ sẽ đề cập trong báo cáo khả thi. Để lựa chọn công nghệ cuối cùng cần có nhiều tiêu chí về an toàn, thiết kế, nhiên liệu, kinh tế tài chính...
Hiện trên thế giới có nhiều loại công nghệ ĐHN và mới nhất hiện nay là thế hệ thứ 4 nhưng còn đang trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm và để thương mại hoá phải đến năm 2030. Các cơ quan chuyên môn của nước ta đang xây dựng các tiêu chí của Nhà máy ĐHN phù hợp với yêu cầu thực tế. Việt Nam sẽ chọn những công nghệ hiện đại nhất và đã được ứng dụng rộng rãi như thế hệ 2 và 3. Thế hệ thứ 3 khá mới đã có ở Nhật Bản, Pháp, Mỹ và một số nước nhưng công suất lại quá lớn. Nếu công nghệ có công suất phù hợp với Việt Nam có thể sẽ là thế hệ 2 vì thế hệ này hội tụ tất cả các thành tựu tiên tiến nhất về khoa học công nghệ vật liệu, điện tử, viễn thông, điều khiển... Cho dù Việt Nam có lựa chọn bất kỳ công nghệ nào thì yêu cầu số một phải là đảm bảo an toàn.
PV: Tiến tiến độ chuẩn bị của dự án Nhà máy ĐHN đầu tiên ở nước ta hiện đang được triển khai như thế nào, thưa Viện trưởng?
VT VƯƠNG HỮU TẤN: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chiến lược và kế hoạch tổng thể ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình đến năm 2020, trong đó khẳng định mục tiêu xây dựng và vận hành an toàn Nhà máy ĐHN đầu tiên vào năm 2020 với tổng công suất 4.000 MW. Để đạt được mục tiêu này, Bộ Công Thương đang khẩn trương hoàn thành và trình Thủ tướng phê duyệt báo cáo đầu tư xây dựng nhà máy. Bộ Khoa học Công nghệ đã soạn thảo trình Quốc hội dự án Luật Năng lượng nguyên tử. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động liên quan đến ĐHN ở Việt Nam, đồng thời chuẩn bị các cơ sở hạ tầng cần thiết để xây dựng nhà máy vào năm 2015 tại Phước Dinh và Vĩnh Hải, Ninh Thuận. Hiện nay, nhu cầu về năng lượng và điện năng của Việt Nam không ngừng tăng và sẽ tiếp tục duy trì ở mức độ cao từ nay đến năm 2020. Theo dự báo của Bộ Công Thương, nhu cầu điện sản xuất ở Việt Nam theo phương án cơ sở sẽ là 294 tỷ kWh vào năm 2020 và 562 tỷ kwh vào năm 2030. Trong khi đó, khả năng cung cấp từ các nguồn năng lượng sơ cấp của Việt Nam cho sản xuất điện năng chỉ đáp ứng được khoảng 230 tỷ kWh vào năm 2020 và 293 tỷ kWh vào năm 2030. Trước tình hình đó, Việt Nam phải đa dạng hóa các nguồn năng lượng mà ĐHN là một trong những nguồn và là giải pháp để bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ phát triển bền vững của đất nước.
PV: Vốn đầu tư cho Nhà máy ĐHN là rất lớn, trong khi đó, nguồn vốn đầu tư cho các nhà máy thủy điện hiện cũng không dư giả gì. Vậy điều này đã được tính đến chưa, thưa Viện trưởng?
VT VƯƠNG HỮU TẤN: Theo mô hình Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế thì đầu tư 1 kw ĐHN sẽ mất khoảng 1.700- 2.500 USD, tùy thuộc vào quá trình trao đổi, ký kết hợp đồng và năng lực của nước chủ nhà khi triển khai xây dựng. Nếu phải thuê toàn bộ chuyên gia nước ngoài trong quá trình thực hiện thì giá thành sẽ cao hơn. Theo tính toán, mức trung bình cho 1 kw sẽ khoảng 2.000 USD. Như vậy, với một nhà máy có công suất 4.000 MW thì tổng số vốn đầu tư khoảng 8 tỷ USD. Chi phí này tuy cao hơn so với thuỷ điện, nhiệt điện và khí tua bin... nhưng chi phí nhiên liệu và vận hành của ĐHN lại thấp hơn.
PV: Một trong những yếu tố hết sức quan trọng khác cần phải đi trước một bước là nhân lực cho ĐHN. Điều này đã được triển khai thực hiện chưa, thưa Viện trưởng?
VT VƯƠNG HỮU TẤN: Nhân lực ĐHN là vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta không nên quá lo lắng mà cần xác định rõ nhu cầu và hiện trạng nhân lực hiện nay để có kế hoạch xây dựng, đào tạo rõ ràng, cụ thể. Nguồn nhân lực có 2 loại: Một là phục vụ trực tiếp cho nhà máy ĐHN đầu tiên và nhân lực cho một số hạ tầng quan trọng của quốc gia để bảo đảm cho chương trình hạt nhân được vận hành. Nhà máy ĐHN đầu tiên sẽ cần khoảng hơn 400- 450 người, trong số này, chuyên gia về hạt nhân chỉ chiếm khoảng 10-15%, số còn lại là các chuyên gia xây dựng, cơ khí máy móc... Tuy nhiên, hiện nguồn nhân lực hạt nhân của Việt Nam có khoảng 750 người trong đó đội ngũ quản lý an toàn và nghiên cứu triển khai chủ yếu là từ Viện Năng lượng nguyên tử và Cục An toàn bức xạ hạt nhân. Mặc dù nhà máy điện đầu tiên sẽ phải nhờ chuyên gia tư vấn, thiết kế nước ngoài nhưng Việt Nam vẫn cần phải có đội ngũ nhân lực, chuyên gia đủ mạnh.
Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Công Thương đã xây dựng, hoàn thành báo cáo nguồn nhân lực trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đến cuối tháng 12.2008, hai Bộ sẽ trình Thủ tướng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho dự án ĐHN. Theo tôi, quan trọng nhất là cơ sở pháp lý cho các hoạt động liên quan đến việc xây dựng, vận hành nhà máy điện nguyên tử đầu tiên tại Việt Nam, mà cụ thể nhất là Luật Năng lượng nguyên tử.
PV: Xin cám ơn Viện trưởng!
HÀ VỸ thực hiện

