Lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển từng ngành
Đó là ý kiến của Chủ tịch Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) - TS. Rajendra Kumar Pachauri tại buổi công bố báo cáo đặc biệt về “Quản lý rủi ro các cực trị và thiên tai nhằm đẩy mạnh thích ứng với biến đổi khí hậu” do Bộ TN-MT phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức mới đây tại Hà Nội.
Việt Nam là một trong những quốc gia đã và đang chịu tác động mạnh của hiện tượng biến đổi khí hậu. BĐKH đã, đang và sẽ gây ảnh hưởng đến các lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên nước, sức khỏe, sinh kế. Một số biểu hiện của BĐKH ở Việt Nam đã xuất hiện là nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè; nhiệt độ sâu trong đất liền tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vùng biển, đảo; lượng mưa giảm về mùa khô và tăng vào mùa mưa…
![]() |
Theo dự báo, các xu thế của các cực trị khí hậu, thiên tai sẽ xuất hiện ở Việt Nam, như mưa phùn giảm rõ rệt, không khí lạnh ở Bắc Bộ giảm, rét đậm, rét hại giảm nhưng lại tồn tại những đợt rét dị thường. Ngoài ra, nắng nóng tăng ở Trung bộ và Nam bộ; mưa trái mùa và mưa lớn dị thường xảy ra thường xuyên hơn. Đó là những thách thức cho công tác phòng chống thiên tai, ứng phó với BĐKH.
Ngoài ra, một chỉ số mới về tính dễ bị tổn thương do các tác động của BĐKH cho thấy, trong vòng 30 năm tới, Việt Nam được xếp hạng thứ 23 trên tổng số 193 quốc gia và là một trong 30 quốc gia có nguy cơ cực lớn về chịu tác động của BĐKH. Trong đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba điểm nóng “cực đoan” của toàn cầu về khả năng phải di dời dân do mực nước biển tăng. Ước tính đến năm 2050 sẽ có đến 1 triệu người có nguy cơ phải di dời khỏi khu vực này do lũ lụt và hạn hán lặp đi lặp lại tạo nên sự căng thẳng về vấn đề sinh kế. Còn đối với nông nghiệp, Việt Nam có 1,6 triệu ha đất nông nghiệp ở vùng ven biển, trong đó đất trồng lúa nước là 0,9 triệu ha sẽ bị ảnh hưởng.
Đánh giá về hành động của Việt Nam trong công tác ứng phó BĐKH, Ts Pachauri cho rằng, Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp hợp lý, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ứng phó với BĐKH được ban hành có tính khả thi cao và rất đồng bộ, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong ứng phó hiệu quả với BĐKH và nước biển dâng. Ông cũng khẳng định, IPCC sẽ luôn hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong công tác ứng phó BĐKH; đồng thời khuyến nghị Việt Nam cần tăng cường các biện pháp như đầu tư hệ thống cảnh báo sớm, chính sách điều tiết của Nhà nước trong đó có điều tiết nước, hoạt động nông nghiệp, quy hoạch đô thị.
Bên cạnh đó, báo cáo của IPCC cũng đã đưa ra một mô hình ứng phó là lồng ghép quản lý rủi ro thảm họa, thích ứng với BĐKH và phát triển bền vững, với một số yếu tố quan trọng; bao gồm: điều hòa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn; lồng ghép quản lý rủi ro, thích ứng với BĐKH vào phát triển kinh tế; phối hợp linh hoạt giữa các ngành; xác định và giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của các tổn thương; cam kết lâu dài với quản lý rủi ro… Để giảm thiểu tác động của BĐKH đối với phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam cần phải lồng ghép các hành động trong chiến lược ứng phó với BĐKH vào trong các chiến lược, quy hoạch phát triển từng ngành. Việc quản lý rủi ro thiên tai, ứng phó với BĐKH phải thực hiện ở nhiều quy mô khác nhau, cấp địa phương, quốc gia và quốc tế.
Đối với người dân, đặc biệt là người nghèo, giải pháp hiệu quả là nâng cao đời sống kinh tế, để họ có nhiều điều kiện chống chọi với BĐKH và các hiện tượng khí hậu cực đoan. Ts Pachauri nhấn mạnh: “Nếu không có các biện pháp thích hợp và hành động ngay, BĐKH sẽ có khả năng làm trầm trọng hơn tình trạng đói nghèo và tiếp tục kìm hãm tăng trưởng kinh tế”. Do đó, vấn đề đặt ra là cần có khung pháp lý đối với việc lồng ghép hoạt động ứng phó BĐKH vào quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế; tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành. Thêm vào đó, cũng cần phải kết hợp quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng để nâng cao khả năng chống chọi cho người dân.


