Làm sạch mã số thuế, khơi thông nguồn lực kinh doanh
Trong 8 tháng năm 2026, ngành thuế đã cấp mới mã số thuế cho 167.637 doanh nghiệp, tổ chức; đồng thời hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với 94.991 trường hợp. Đáng chú ý, phần lớn số hồ sơ chấm dứt hiệu lực được xử lý trong chiến dịch làm sạch dữ liệu, qua đó không chỉ phản ánh đúng hơn thực trạng hoạt động của doanh nghiệp mà còn tháo gỡ thủ tục cho những doanh nghiệp có nhu cầu quay trở lại thị trường.
Gần 95.000 mã số thuế được xử lý
Theo Phó Cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn, trong 8 tháng năm 2026, ngành thuế cấp mới mã số thuế cho 167.637 doanh nghiệp, tổ chức, bằng 89% cùng kỳ năm 2025. Trong đó, có 156.478 doanh nghiệp, bao gồm chi nhánh thuộc diện đăng ký thuế liên thông với đăng ký kinh doanh, bằng 108% cùng kỳ.

Ở chiều ngược lại, ngành thuế đã hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với 94.991 doanh nghiệp, tổ chức, tăng 109% so với cùng kỳ năm 2025. Trong số này có 58.384 doanh nghiệp và chi nhánh thuộc diện đăng ký thuế liên thông với đăng ký kinh doanh.
Tuy nhiên, những con số trên cần được nhìn nhận trong tương quan với thời điểm phát sinh hồ sơ. Theo ông Mai Sơn, trong gần 95.000 trường hợp đã hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế, chỉ có 23.017 trường hợp đề nghị thực hiện trong năm 2026. Gần 72.000 trường hợp còn lại là hồ sơ từ năm 2025 trở về trước, được cơ quan thuế xử lý trong quá trình triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”.
Điều này cho thấy, số lượng mã số thuế được chấm dứt hiệu lực trong 8 tháng năm không đồng nghĩa với việc có gần 95.000 doanh nghiệp đồng loạt rời thị trường trong năm 2026. Một tỷ trọng lớn trong số đó là hồ sơ tồn đọng được rà soát, xử lý và cập nhật lại trạng thái trên hệ thống quản lý thuế.
Xét riêng doanh nghiệp và chi nhánh thuộc diện đăng ký thuế liên thông với đăng ký kinh doanh, tương quan giữa số doanh nghiệp thành lập mới và số hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế vẫn ở mức tích cực. Năm 2024, số doanh nghiệp thành lập mới cao gấp 6 lần số hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; năm 2025 là 4,5 lần và 8 tháng năm 2026 là 6,8 lần.
Theo Phó Cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn, tỷ lệ năm 2025 thấp hơn năm 2024 và 8 tháng năm 2026 có liên quan đến việc số lượng doanh nghiệp được chấm dứt hiệu lực mã số thuế tăng trong quá trình sắp xếp địa bàn hành chính 2 cấp.
Nhìn từ góc độ quản lý, việc phân định rõ số doanh nghiệp thực tế gia nhập, rời thị trường với số hồ sơ được xử lý là cần thiết. Dữ liệu mã số thuế chỉ thực sự có giá trị khi phản ánh đúng tình trạng hoạt động của người nộp thuế, qua đó giúp cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá chính xác hơn sức khỏe khu vực doanh nghiệp và tổ chức thực hiện chính sách phù hợp.
Làm sạch dữ liệu, tháo gỡ điểm nghẽn
Theo Phó Trưởng Ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế), Nguyễn Đức Huy, chấm dứt hiệu lực mã số thuế là nhiệm vụ thường xuyên của ngành Thuế. Tuy nhiên, quá trình xử lý trên thực tế gặp không ít khó khăn, nhất là tình trạng doanh nghiệp đã ngừng kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh.
Từ yêu cầu này, năm 2026, Cục Thuế nâng nhiệm vụ xử lý hồ sơ tồn đọng thành Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, triển khai thống nhất trong toàn ngành theo Quyết định số 595/QĐ-CT.
Mục tiêu trọng tâm của chiến dịch là rà soát, làm sạch, chuẩn hóa và giảm số người nộp thuế đang ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, được xác định là trạng thái 03; đồng thời xử lý trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, thuộc trạng thái 06. Cùng với đó là kiểm soát các trường hợp phát sinh mới, hạn chế tình trạng hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động bị tồn đọng.
Điểm xuyên suốt của chiến dịch là vừa tạo thuận lợi cho người nộp thuế có thiện chí tuân thủ, vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong quản lý thuế. Theo đó, hồ sơ được phân loại theo mức độ rủi ro để có phương thức xử lý phù hợp: hồ sơ đủ điều kiện được hỗ trợ giải quyết nhanh; hồ sơ có dấu hiệu rủi ro được tăng cường kiểm tra, xác minh và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền.
Cách tiếp cận này cũng nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng pháp nhân doanh nghiệp để mua bán hóa đơn, trốn thuế, gian lận hoặc trục lợi ngân sách nhà nước. Đồng thời, dữ liệu sau khi được chuẩn hóa sẽ trở thành nền tảng phục vụ vận hành hệ thống quản lý thuế mới và kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Để thực hiện mục tiêu trên, Cục Thuế đã triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp và tăng cường phối hợp liên ngành. Bộ Tài chính đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo sở, ngành, chính quyền địa phương và công an cơ sở phối hợp với cơ quan thuế. Cục Thuế cũng ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, tài liệu hỗ trợ doanh nghiệp và chỉ tiêu triển khai trong toàn ngành.
Với Bộ Công an, Cục Thuế phối hợp với Cục C06 rà soát, chuẩn hóa thông tin định danh của người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp ở trạng thái 03 và 06, phục vụ công tác liên hệ, hướng dẫn người nộp thuế và xác minh thông tin phục vụ quản lý thuế.
Đối với cơ quan đăng ký kinh doanh, ngành thuế tăng cường phối hợp xử lý các doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định và hoàn tất thủ tục giải thể đối với doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế. Với cơ quan hải quan, việc xác nhận nghĩa vụ thuế được phối hợp thực hiện nhằm rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động.
Một nội dung khác được ngành thuế quan tâm là xử lý các trường hợp cá nhân bị giả mạo hoặc bị sử dụng trái phép thông tin để thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc pháp nhân không phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế. Việc phối hợp xử lý theo hướng bảo vệ quyền lợi của cá nhân bị ảnh hưởng, đồng thời tách bạch nghĩa vụ của cá nhân với nghĩa vụ của pháp nhân được thành lập trái phép.
Đáng chú ý, chiến dịch không chỉ nhằm xử lý những trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp có khả năng tiếp tục kinh doanh được khôi phục trạng thái phù hợp. Theo Cục Thuế, đến hết ngày 31.8, cơ quan thuế đã khôi phục mã số thuế cho hơn 3.000 doanh nghiệp trở lại sản xuất, kinh doanh, khai và nộp thuế. Riêng trong tháng 8, hơn 6.000 trường hợp được tiếp nhận, xử lý; khoảng 17.000 doanh nghiệp đang liên hệ với cơ quan thuế để hoàn tất các thủ tục liên quan đến nghĩa vụ ngân sách.
Như vậy, “làm sạch” mã số thuế không đơn thuần là đóng lại những mã số không còn hoạt động. Bản chất của quá trình này là chuẩn hóa dữ liệu, phân loại đúng người nộp thuế, xử lý nhanh hồ sơ đủ điều kiện và nhận diện sớm các trường hợp có nguy cơ vi phạm. Qua đó, vừa giảm tồn đọng thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tuân thủ, vừa nâng cao hiệu quả quản lý thuế.
Quan trọng hơn, khi dữ liệu phản ánh sát thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, cơ quan quản lý có thêm cơ sở để đánh giá đúng sức khỏe nền kinh tế, còn doanh nghiệp có điều kiện hoàn tất nghĩa vụ, khôi phục hoạt động hoặc chấm dứt hoạt động theo đúng quy định. Đây cũng là một bước trong quá trình xây dựng hệ thống quản lý thuế dựa trên dữ liệu, quản lý theo rủi ro và lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ, nhưng vẫn bảo đảm kỷ cương, kỷ luật quản lý nhà nước.

