Làm rõ trách nhiệm phối hợp bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia
Thảo luận tại Tổ 13 (Thanh Hóa, Gia Lai) sáng 26/10 về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, các ĐBQH đề nghị phân định rõ đối tượng điều chỉnh để tránh chồng chéo với pháp luật về công trình quốc phòng, khu quân sự. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện tiêu chí phân loại để bố trí lực lượng, nguồn lực bảo vệ phù hợp với mức độ quan trọng của từng công trình.
Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên dự thảo luận tổ
Bảo đảm hài hòa yêu cầu an ninh và an sinh
Cơ bản thống nhất với dự thảo Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, ĐBQH Trần Minh Trọng (Gia Lai) đánh giá, dự thảo đã thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

Theo đại biểu, việc hoàn thiện pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tương thích với các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Các biện pháp bảo vệ công trình có hạn chế quyền con người, quyền công dân phải được quy định bằng luật.
Đại biểu cũng đề nghị khắc phục những vướng mắc trong xác định danh mục công trình quan trọng; bắt kịp sự phát triển của khoa học, công nghệ; phân công, phân cấp rõ trách nhiệm giữa các lực lượng chức năng trong tổ chức bảo vệ

Góp ý vào dự án luật này, đại biểu đề nghị điều chỉnh khoản 2 Điều 1 theo hướng quy định: “Luật này không điều chỉnh đối với các công trình quốc phòng và khu quân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự”.
Đại biểu phân tích, công trình quốc phòng, khu quân sự thuộc phạm vi quản lý chuyên biệt của Bộ Quốc phòng, phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, phòng thủ quân sự. Trong khi đó, các công trình liên quan đến an ninh quốc gia thuộc trách nhiệm của cơ quan dân sự, doanh nghiệp và được bảo vệ bởi lực lượng Công an nhân dân. Việc phân định rõ đối tượng điều chỉnh sẽ tránh chồng chéo, xung đột về thẩm quyền hoặc áp dụng quy định giữa hai lực lượng Công an và Quân đội.
Cùng với đó, đại biểu đề nghị bổ sung một khoản tại Điều 41, quy định “Bộ Quốc phòng chỉ đạo các lực lượng thuộc quyền có liên quan phối hợp bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia ở vùng biên giới, hải đảo, thềm lục địa; phối hợp kiểm soát không phận, chế áp thiết bị bay không người lái vi phạm vùng trời của công trình”.
Theo đại biểu, có những công trình nằm trên địa bàn đặc thù nhưng không thuộc công trình quốc phòng, khu quân sự, như giàn khoan dầu khí, cáp quang trên biển, các công trình quan trọng trong vành đai biên giới. Vì vậy, cần quy định rõ trách nhiệm phối hợp của Bộ Quốc phòng trong bảo vệ các công trình này.

Quan tâm đến tiêu chí phân loại và tác động của các biện pháp bảo vệ đối với người dân, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) cho rằng, sau gần 20 năm thi hành Pháp lệnh năm 2007, đối tượng cần bảo vệ đã thay đổi nhiều. Bên cạnh trụ sở, kho tàng, đập thủy điện, sân bay, cảng biển, yêu cầu bảo vệ còn đặt ra đối với trung tâm dữ liệu, hệ thống điều độ điện, hạ tầng thanh toán, hệ thống thông tin y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội.
Về Điều 6 và Điều 7, đại biểu đồng ý chia công trình thành loại 1, loại 2, loại 3 nhưng đề nghị xem lại tiêu chí phân loại. Các tiêu chí còn thiên về tên gọi, loại hình, quy mô, có thể chưa phản ánh đúng mức độ quan trọng của công trình.
Dẫn ví dụ, đại biểu cho rằng, một trạm điều khiển hệ thống điện chỉ là tòa nhà nhỏ, có vài chục người làm việc, nhưng nếu ngừng hoạt động vài giờ có thể khiến hàng triệu hộ dân, bệnh viện, trường học, nhà máy mất điện. Ngược lại, một kho hàng lớn khi gặp sự cố vẫn có thể được thay thế ngay trong ngày. Nếu chỉ nhìn vào quy mô, việc phân loại có thể không phản ánh đúng rủi ro đối với quốc gia.

Đại biểu đề nghị xây dựng tiêu chí dựa trên hậu quả khi công trình bị gián đoạn hoạt động, làm rõ năm yếu tố: tính thiết yếu của chức năng; số người và số hệ thống phụ thuộc; thời gian gián đoạn tối đa có thể chịu đựng; khả năng thay thế, thời gian phục hồi; mức độ tác động dây chuyền đến các ngành khác.
Trên cơ sở đó, cần bổ sung tiêu chí định lượng đối với công trình loại 1, nhất là công trình năng lượng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số quốc gia; làm rõ mức độ bảo vệ tương ứng với từng loại, gắn phân loại với trách nhiệm và nguồn lực thực tế.
Đối với khu vực cấm, khu vực bảo vệ, hành lang bảo vệ tại Điều 20, đại biểu lưu ý, nhiều công trình nằm trong hoặc gần khu dân cư, nơi đời sống, hoạt động kinh doanh của người dân đã hình thành trước khi công trình được xây dựng hoặc xếp hạng.
Đại biểu đề nghị quy định ngay trong luật những trường hợp người dân bị hạn chế tiếp cận, doanh nghiệp bị hạn chế hoạt động hợp pháp và những trường hợp được phép hoạt động trong khu vực bảo vệ kèm theo điều kiện; chỉ giao Chính phủ quy định biện pháp, thông số kỹ thuật. Cách thiết kế này nhằm bảo đảm yêu cầu tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp về việc hạn chế quyền phải do luật quy định.

Trước khi xác lập phạm vi khu vực bảo vệ, cần khảo sát hiện trạng dân cư, lấy ý kiến cộng đồng và chính quyền cơ sở. Theo đại biểu, có nơi chỉ cần điều chỉnh ranh giới vài chục mét đã có thể tránh ảnh hưởng đến cả một dãy phố hoặc một ngôi trường.
Đại biểu đồng thời đề nghị có cơ chế hỗ trợ, bồi thường khi sinh kế hợp pháp bị hạn chế; bảo đảm điều kiện tiếp cận cho người cao tuổi, người khuyết tật, học sinh, người bệnh sử dụng trường học, cơ sở y tế nằm trong hoặc sát khu vực bảo vệ.
Nhấn mạnh người dân sống quanh công trình là lớp bảo vệ đầu tiên, đại biểu cho rằng, khi được tôn trọng, hỗ trợ và bảo đảm quyền lợi, người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ công trình. Vì vậy, yêu cầu an ninh và an sinh phải đi cùng nhau cần được thể hiện rõ tại Điều 20 và các nguyên tắc chung của luật.
Đơn giản hóa thủ tục phải đi đôi với trách nhiệm và kiểm soát rủi ro
Góp ý đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) đánh giá, việc phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, giải quyết hồ sơ trên môi trường số và điều chỉnh cơ chế nghiệm thu, quản lý phương tiện phòng cháy, chữa cháy là những nội dung thiết thực.

Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh, cải cách phải gắn với trách nhiệm rõ ràng và cơ chế kiểm soát rủi ro. Về kinh doanh công cụ hỗ trợ, đại biểu đề nghị rà soát sự thống nhất giữa Điều 49, Điều 50 và các quy định liên quan. Dự thảo sửa Điểm đ Khoản 2 Điều 49 theo hướng yêu cầu hoạt động kinh doanh phải theo giấy phép, nhưng đồng thời bãi bỏ Điều 50 quy định thủ tục cấp giấy phép.
Nếu bỏ giấy phép kinh doanh riêng, cần sửa tương ứng tại Điều 49 và các điều khoản liên quan; nếu giữ giấy phép, phải duy trì căn cứ, điều kiện, trình tự cấp. Nội dung này cần được đối chiếu với Luật Đầu tư và pháp luật về điều kiện an ninh, trật tự, làm rõ cơ chế quản lý thay thế khi bỏ điều kiện kinh doanh.
Đối với các sửa đổi tại Điều 9, Điều 10, Điều 20, Điều 25 và Điều 53 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, đại biểu đề nghị làm rõ hồ sơ hợp lệ, thời điểm tính thời hạn 3 ngày làm việc và phương án xử lý khi hệ thống điện tử gặp sự cố.
Việc giảm giấy tờ vẫn phải bảo đảm xác minh nhu cầu, đối tượng, số lượng, chủng loại, điều kiện bảo quản và sử dụng. Hồ sơ điện tử cần được lưu vết, tra cứu và kết nối với cơ quan quản lý trực tiếp. Khi tổ chức chấm dứt hoạt động hoặc không tự nguyện giao nộp vũ khí, công cụ hỗ trợ, phải có trình tự thông báo, kiểm tra, lập biên bản, thu hồi thống nhất; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan cấp phép, cơ quan quản lý địa bàn và trách nhiệm khi chuyển giao, bảo quản.

Về Điều 18 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, đại biểu ủng hộ giảm thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu với điều kiện giao rõ trách nhiệm cho chủ đầu tư, chủ sở hữu, chủ phương tiện và thiết lập hậu kiểm thực chất. Khoản 4 Điều 18 cần xác định rõ chủ thể nghiệm thu, hồ sơ lưu giữ, cơ quan tiếp nhận thông báo, điều kiện đưa công trình vào sử dụng, tiêu chí hậu kiểm và biện pháp xử lý khi không bảo đảm an toàn.
Đại biểu lưu ý, nếu nhà xưởng tự nghiệm thu rồi hoạt động nhưng hệ thống báo cháy, lối thoát nạn không đúng thiết kế, phải có căn cứ xác định trách nhiệm của chủ đầu tư, đơn vị tư vấn, thi công và người đứng đầu cơ sở.
Cần rà soát đồng bộ các sửa đổi tại Điều 11, Điều 14, Điều 22, Điều 41 và Điều 55, tránh tiếp tục yêu cầu văn bản chấp thuận nghiệm thu của cơ quan chuyên ngành khi thủ tục này đã bị bãi bỏ. Đồng thời, đối chiếu với Luật Xây dựng, Luật Thủ đô và pháp luật về quản lý chất lượng công trình, làm rõ quan hệ giữa hậu kiểm phòng cháy, chữa cháy với nghiệm thu xây dựng, tránh kiểm tra trùng lặp hoặc để trống trách nhiệm.
Đối với Điều 44, đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ việc miễn công bố hợp quy, miễn kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu đối với một số phương tiện, vật liệu phòng cháy, chữa cháy. Cần quy định cụ thể tiêu chuẩn, quy chuẩn được chấp nhận; điều kiện công nhận tổ chức đánh giá sự phù hợp; trách nhiệm truy xuất nguồn gốc và cơ chế thu hồi sản phẩm không bảo đảm chất lượng.

Kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn nước ngoài chỉ nên được chấp nhận khi đáp ứng yêu cầu tương đương với quy chuẩn áp dụng tại Việt Nam. Quy định này cần thống nhất với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; xác định rõ trường hợp miễn, điều kiện miễn và biện pháp quản lý thay thế.

