Làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sáng 21/8, tại Khánh Hòa, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo Khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW.
Từng bước làm chủ tri thức, dữ liệu, công nghệ và không gian phát triển biển
Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra một yêu cầu mới, có ý nghĩa chiến lược đối với ngành khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đó là từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Bộ trưởng, nếu trước đây khoa học và công nghệ chủ yếu được nhìn nhận là công cụ hỗ trợ cho từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế biển, thì trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra cao hơn. Khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng của quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; nền tảng để phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững; đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quản trị biển, đại dương khu vực và quốc tế. Nói cách khác, không gian biển phải trở thành một không gian phát triển dựa trên tri thức và công nghệ.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. Đối với Bộ Khoa học và Công nghệ, các nhiệm vụ được giao không phải là những nhiệm vụ riêng lẻ, mà là một hệ thống liên kết giữa nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu và hợp tác quốc tế.
Câu hỏi đặt ra, ngành khoa học và công nghệ phải làm gì để Việt Nam chuyển từ vị thế có biển, khai thác biển sang từng bước làm chủ tri thức, dữ liệu, công nghệ và không gian phát triển biển?
Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu đề tài hay bao nhiêu báo cáo, mà là chúng ta làm chủ được những công nghệ nào, tạo ra sản phẩm gì và hình thành được năng lực quốc gia nào.

Trong đó, phải lấy doanh nghiệp và địa phương làm những chủ thể quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển. Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình quản trị và giá trị kinh tế - xã hội.
Vì vậy, doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ khâu xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa. Nhà nước cần tạo cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực có độ rủi ro cao nhưng có ý nghĩa chiến lược.
Đồng thời, các địa phương ven biển cần được đặt vào vị trí chủ động hơn trong việc xác định bài toán, tổ chức thử nghiệm và hình thành thị trường cho các sản phẩm, công nghệ biển.
Phải đổi mới cách tổ chức và triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển. Biển là một không gian liên thông; vì vậy, nghiên cứu biển cũng không thể tiếp tục bị chia cắt quá nhiều theo ngành, lĩnh vực hay địa giới hành chính. Cần chuyển mạnh sang các bài toán lớn, liên ngành, liên vùng, có sản phẩm đầu ra rõ ràng, gắn nghiên cứu cơ bản với điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đào tạo nhân lực, nhu cầu của doanh nghiệp và yêu cầu quản trị quốc gia.
Tinh thần chung là ít nhiệm vụ phân tán hơn nhưng nhiệm vụ lớn hơn; ít chú trọng vào số lượng hơn nhưng coi trọng kết quả và tác động; lấy sản phẩm cuối cùng và năng lực được hình thành làm thước đo.
Phải dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo
Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trần Tuấn Anh cho biết: Việc triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW cần được đặt trong tổng thể các chủ trương lớn của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây chính là điểm cần được quán triệt ngay từ đầu: Phát triển quốc gia biển mạnh trong giai đoạn mới phải là phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ công nghệ.

Một quốc gia biển mạnh không chỉ là quốc gia có nhiều cảng biển, nhiều tàu hay có quy mô kinh tế biển lớn. Quan trọng hơn, đó phải là một quốc gia hiểu được biển, dự báo được biển, quản trị được biển, khai thác bền vững tài nguyên biển và từng bước làm chủ các công nghệ biển hiện đại.
Để thực hiện thành công Nghị quyết số 20 và Nghị quyết số 57 trong lĩnh vực biển, ông Trần Tuấn Anh cho rằng, chúng ta cần thực hiện đồng thời bốn chuyển đổi lớn: một là, từ nghiên cứu đơn ngành sang nghiên cứu liên ngành, đa ngành. Hai là, từ các đề tài riêng lẻ sang các chương trình giải quyết bài toán lớn của quốc gia. Ba là, từ dữ liệu phân tán sang hạ tầng dữ liệu biển dùng chung và quản trị dựa trên dữ liệu. Bốn là, từ ứng dụng công nghệ sang từng bước làm chủ những công nghệ biển chiến lược.
Nếu thực hiện được những chuyển đổi đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ thực sự trở thành động lực để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Và quan trọng hơn, chúng ta sẽ hình thành được một năng lực khoa học biển quốc gia, trong đó các tổ chức nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và địa phương không hoạt động riêng rẽ mà cùng tham gia giải quyết những mục tiêu chiến lược chung.

Ở góc độ địa phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Thanh Hà cho biết: Khánh Hòa tập trung mạng lưới R&D và nguồn nhân lực chất lượng cao, là trung tâm đào tạo và nghiên cứu biển lớn của vùng và cả nước. Địa phương tập trung hệ thống các Viện nghiên cứu và Trường đại học chuyên sâu hàng đầu như Viện Hải dương học, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, Đại học Nha Trang... Cùng với đó là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư giàu kinh nghiệm, nguồn nhân lực biển được đào tạo bài bản – đây chính là "tài sản trí tuệ" quý giá, là lực lượng nòng cốt để tiếp nhận, nghiên cứu và làm chủ các công nghệ đại dương tiên tiến.
Khánh Hòa đang trong động lực tăng trưởng bứt phá: Năm 2025, GRDP của tỉnh đạt 209,3 nghìn tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng GRDP đạt 9,03% (xếp thứ 14/34 tỉnh, thành). Riêng 7 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã đón 15,1 triệu lượt khách du lịch (trong đó có 5,5 triệu khách quốc tế), doanh thu đạt trên 52.000 tỷ đồng.
Khánh Hòa cam kết dành nguồn lực ưu tiên cao nhất, chuẩn bị sẵn sàng mặt bằng, thể chế, hạ tầng cũng như phối hợp chặt chẽ với các Viện, Trường trên địa bàn để đón nhận và triển khai hiệu quả các dự án nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.

