Kỳ họp thứ Ba, QH Khóa XIII

P. Thủy - Q. Khánh 20/06/2012 20:02

* Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực: Làm rõ yếu tố cơ chế thị trường và yếu tố điều tiết của Nhà nước trong giá điện * Thông qua Luật Giá, Luật Giám định tư pháp, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Công đoàn (sửa đổi) và Nghị quyết về thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Sáng 20.6, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn, QH đã thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.
Đa số ĐBQH nhất trí với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Về chính sách giá điện, nhiều ĐBQH nhất trí bổ sung Khoản 1a, Điều 29 quy định giá bán điện thực hiện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước và phải có thị trường điện lực thực sự. Tuy nhiên, cần làm rõ yếu tố cơ chế thị trường và yếu tố điều tiết của Nhà nước trong giá điện vì hiện nay Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) vẫn đang độc quyền nên khó theo cơ chế thị trường. ĐB Đoàn Nguyễn Thùy Trang (TP Hồ Chí Minh) tán thành giá điện được thực hiện theo cơ chế thị trường nhưng phải có sự điều tiết quản lý của Nhà nước. Để hạn chế tình trạng độc quyền của doanh nghiệp nhất thiết phải có sự kiểm soát, điều tiết của Nhà nước. Theo đó, tại Khoản 1, Điều 17, dự thảo luật cần bổ sung thêm 2 tiêu chí là minh bạch, hiệu quả vào quy tắc hoạt động của thị trường điện lực. Đồng tình với quan điểm trên, ĐB Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn) cho rằng, điện năng là một loại hàng hóa đặc biệt, gắn chặt giữa sản xuất và tiêu dùng, điện năng không tích lũy được. Do tính chất, đặc điểm này mà việc xây dựng thị trường điện cạnh tranh hết sức khó khăn và đòi hỏi phải có thời gian, lộ trình cụ thể. Như ngành điện đã xác định rằng đến năm 2022, tức khoảng 10 năm nữa, mới hoàn chỉnh được thị trường điện cạnh tranh. Về nguyên tắc có hai công cụ để điều tiết giá cả, đó là điều tiết thị trường và điều tiết của Nhà nước. Sự điều tiết hoàn toàn theo cơ chế thị trường chỉ có tác dụng trong hoàn cảnh thị trường có tính cạnh tranh cao, trong trường hợp hiện nay còn mang tính độc quyền của ngành điện thì cần có sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực giá. Một số ĐBQH cho rằng, lộ trình đến năm 2022 mới thực sự có thị trường điện cạnh tranh là quá chậm, cần rút ngắn thời gian. Để có thị trường điện cạnh tranh cần tái cơ cấu ngành điện; hạn chế độc quyền trong ngành điện để khuyến khích đầu tư vào ngành điện, mở rộng các thành phần tham gia đầu tư, làm tăng nguồn điện cung ứng; đồng thời, khuyến khích phát triển điện cạnh tranh cho các thành phần kinh tế khác nhau…

Về giá điện, một số ĐBQH cho rằng, quy định về giá điện cần phù hợp với Luật Giá. Hiện giá điện thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư, chưa tạo được động lực khuyến khích sản xuất kinh doanh điện, khiến người sử dụng chưa có ý thức tiết kiệm điện. ĐB Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng, để giá điện thực sự minh bạch và dễ quản lý, giám sát thì giá điện cần phải tách bạch chi tiết giữa các khâu đề ra cùng với từng cấp độ phát triển thị trường điện. Các khâu có tính chất độc lập để bảo đảm không có sự xung đột lợi ích giữa các đơn vị tham gia thị trường, nhằm tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong thị trường điện. Ví dụ, cấp độ thị trường điện bán buôn cạnh tranh 2014-2022 thì đơn vị truyền tải điện, vận hành hệ thống điện, thị trường điện phải tách độc lập, không chung lợi ích với đơn vị phát điện, đơn vị phân phối, bên bán điện để các nhà máy điện được đối xử bình đẳng trong việc đấu nối vào lưới điện truyền tải.

Về giá điện đối với hộ nghèo, vùng chưa nối lưới điện quốc gia, đa số ĐBQH nhất trí chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa. Cần đặc biệt quan tâm đến chính sách để người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới được sử dụng lưới điện quốc gia. Giá bán điện với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng nông thôn, miền núi và hải đảo phải hợp lý. Do đó, cần bảo đảm chính sách trợ giá phải đúng mục đích, đúng đối tượng; đồng thời cần quy định cụ thể về điện lưới nông thôn vì đây là khu vực đầu tư không hiệu quả. Một số ý kiến đề nghị, để vừa phản ánh đúng cơ chế thị trường trong kinh doanh điện năng vừa thể hiện được chính sách ưu tiên đầu tư phát triển KT-XH, bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội cho các vùng này thì Nhà nước nên đưa nhu cầu điện sinh hoạt ở các vùng này vào diện điện phục vụ công ích, diện chính sách. Đồng thời, có cơ chế bù giá hợp lý phù hợp với thu nhập của người dân ở các vùng này, không phân biệt vùng đã có lưới điện quốc gia hoặc chưa có lưới điện quốc gia.

Buổi chiều, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn, QH đã biểu quyết thông qua dự án Luật Giá với 95,39% ĐBQH tán thành. Theo đó, Luật Giá quy định 11 mặt hàng nằm trong danh mục hàng hóa bình ổn giá gồm: xăng dầu, điện, khí dầu mỏ hóa lỏng, phân đạm, phân NPK, thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của pháp luật, vaccine phòng bệnh cho gia súc, gia cầm, muối ăn, sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi, đường ăn, thóc, gạo tẻ thường, thuốc phòng, chữa bệnh. Trong trường hợp cần thiết, lập quỹ bình ổn giá đối với mặt hàng cần bình ổn giá thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá nhằm mục tiêu hỗ trợ cho bình ổn giá; sử dụng quỹ bình ổn giá khi giá của hàng hóa, dịch vụ đó biến động bất thường hoặc tác động xấu đến nền kinh tế và đời sống. Chính phủ quy định chi tiết về mặt hàng được lập quỹ bình ổn giá, việc lập, quản lý và sử dụng quỹ bình ổn giá. Đối với các hàng hóa, dịch vụ được Nhà nước định giá, Luật này quy định định mức giá cụ thể với giá truyền tải điện, giá dịch vụ phụ trợ hệ thống điện. Nhà nước định khung giá đối với: giá phát điện; giá bán buôn điện; mức giá bán lẻ điện bình quân; dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa tuyến độc quyền.

Tiếp đó, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu, QH đã biểu quyết thông qua dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính với 85,77% ĐBQH tán thành; dự án Luật Giám định tư pháp với 92,18% ĐBQH tán thành; dự án Luật Công đoàn (sửa đổi) với 90,18% ĐBQH tán thành; dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật với 93,79% ĐBQH tán thành. QH cũng đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính với 89,58% ĐBQH tán thành. 

Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 50.000 đồng đến 1 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2 tỷ đồng đối với tổ chức. Chính phủ quy định khung hoặc mức phạt đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể nhưng khung phạt cao nhất không vượt quá mức phạt tiền tối đa. Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc Trung ương, mức phạt tiền có thể cao hơn nhưng tối đa không quá hai lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ, môi trường và quản lý đô thị. Căn cứ vào mức phạt tiền chung, đặc thù yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của địa phương, Hội đồng Nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức phạt cụ thể đối với các hành vi vi phạm trong các lĩnh vực quy định tại khoản này.

    Kỳ họp thứ Ba, QH Khóa XIII
    • Mặc định