Kiến trúc sinh thái - cách tiếp cận thế giới
Trong thời đại mà chữ “toàn cầu hóa” gần như được mặc định là “Mỹ hóa” thì người ta vẫn thấy ở một chiều ngược lại, những cố gắng để đa phương hóa không ngừng vận động. Trong lĩnh vực kiến trúc và xây dựng, khi các nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế nóng như Việt Nam đang nỗ lực “bêtông kính thép hóa” để hòng bắt kịp nền văn minh cơ giới của các nước phương Tây, thì giới kiến trúc các nước này sớm nhận ra những ưu thế của kiến trúc sinh thái.
Không phải vô cớ mà các kiến trúc sư được giải Pritzker những năm gần đây và các công trình xây dựng lớn của thế giới đều cực kỳ đề cao vấn đề môi sinh. Câu hỏi “bạn xanh bao nhiêu?” dự báo trở thành một tiêu chuẩn cho ngành kiến trúc không phải là điều quá viển vông nay mai.
Vì những lẽ đó, triển lãm Sinh thái đương đại: những năng lượng mới cho kiến trúc Italy hồi tháng 5 và Tre - Nghệ thuật và kiến trúc mới của 2 KTS người Đức Markus Heinsdoff và Christoph Tnges đang diễn ra tại Viện Goethe Hà Nội đã đánh dấu mối quan tâm trở lại của giới kiến trúc Việt Nam. Hãy còn quá sớm để nói về một khả năng ứng dụng, song việc công trình Quán cà phê Gió và Nước ứng dụng vật liệu cây tầm vông tự nhiên của KTS Võ Trọng Nghĩa được giải nhì giải thưởng Kiến trúc VN năm 2006 và giải nhì cuộc thi kiến trúc tại Mỹ, cùng phương án thiết kế ĐHKT TP Hồ Chí Minh cách đây hai năm cũng của KTS này liên danh với một KTS Nhật Bản khai thác các yếu tố xử lý vi khí hậu và sinh thái, cho thấy một khả năng xây dựng đáng lưu ý. Bởi lẽ, những kỹ thuật xử lý mà các triển lãm và công trình này đưa ra không phải là quá xa lạ với những kết cấu truyền thống có từ hàng ngàn năm ở nước ta, song nó đặt giới kiến trúc phải suy nghĩ về cách tiếp cận thế giới.
Trong số những cuốn sách về kiến trúc hiếm hoi xuất bản mới đây, người ta chú ý cuốn Xây nhà bằng đất của KTS Phạm Ngọc Tới (Văn Ngọc), sống ở Pháp, vì nó là tiếp nối một mạch nghiên cứu từng được đề cao song đã đứt quãng một hai chục năm gần đây. Những kỹ thuật xây nhà bằng đất nện, tường trình cốt tre, sỏi nghiền trộn mật, của các dân tộc thiểu số phía Bắc và ngay ở đồng bằng Bắc Bộ cách đây không quá xa, cũng như cách thức dùng cây tre trong các kết cấu chịu uốn xuất hiện trong triển lãm của 2 KTS người Đức đã được người Việt dùng nhiều. Những quyển sách như Từ những mái tranh cổ truyền (Nguyễn Cao Luyện), Kiến trúc nhà ở dân gian đồng bằng và miền núi Bắc Bộ (Nguyễn Khắc Tụng) đã rất quan tâm đến khả năng nhân rộng thực tế trong hoàn cảnh kinh tế và vật liệu tại chỗ.
Điểm đáng lưu ý là tại hai triển lãm nói trên, quy mô của các công trình đã được đẩy lên mức tương đối lớn. Đặc biệt, sự nghiên cứu về cấu trúc và hình thái theo hướng sáng tạo mới khiến cho các cấu trúc sinh thái này không lệ thuộc vào kiến trúc bản địa quen thuộc ở các nước Á Đông, nơi các KTS Đức thể nghiệm hay kiến trúc vùng núi nơi các KTS Italy xây dựng. Cùng một vật liệu tre, 2 KTS Đức đã tạo nên những không gian đầy sáng tạo: một cấu trúc hình khinh khí cầu Zeppelin (loại khí cầu dài những năm 1920) có thể dùng cho quán cà phê hay hội trường có khẩu độ lớn (dài 27m, cao 5,5m) hay những không gian hình vòm vỏ hoặc đa diện rất lý tưởng cho hoạt động cắm trại hay triển lãm. Hãy tưởng tượng, chúng ta làm một cái bu gà khổng lồ và việc của chúng ta là làm cho cái bu gà ấy thật đẹp để có thể sinh hoạt trong đó! Hình ảnh có vẻ hài hước này minh họa cho chi tiết các KTS Đức đã nghiên cứu từ những cấu trúc rất phổ biến trong đồ dùng của các dân tộc sử dụng tre. Đó thực sự là những cấu trúc hoàn hảo để chứa đựng hoặc bao che, và từ đó dẫn đến việc phóng lớn không phải là quá kỳ quặc. Thay vì mối buộc đơn giản bằng dây lạt, thừng hoặc chốt tre đực như của kỹ thuật cổ truyền Việt Nam, các nhà sáng tạo Đức kết hợp với các khớp nối bằng thép có thể tháo lắp từng khúc. Khi khung tre cần thay thế, họ chỉ việc thay đoạn mới nối vào hai khớp như ban đầu. Với một tư duy hình khối hậu hiện đại, họ không còn bị đóng khung ở kiến trúc cột-xà-kẻ như trong các ngôi nhà dân gian Á Đông.
Kiến trúc sinh thái và phỏng sinh học xét về mặt chi phí vật liệu không lớn, song việc đầu tư nghiên cứu và đưa ra các mô hình khả thi lại đòi hỏi một sự nỗ lực hơn nhiều so với những hệ thống xây dựng vật liệu quen thuộc có máy tính và các công thức kinh viện hỗ trợ. Ví dụ như mô hình kinh khí cầu tre nói trên, KTS Heinsdoff cho biết đầu tư hết 15.000USD, song nếu đem ra ứng dụng hàng loạt, chi phí chỉ còn 2.000USD và có thể rẻ hơn. Điều quan trọng là mô hình ứng dụng bằng các vật liệu tự nhiên như thế đã cho phép người xây dựng nghĩ đến những sáng tạo vượt ra khỏi cấu trúc đã đóng khung nhiều thế kỷ. Vẫn còn đó những khoảng mở cho việc làm mới những thứ quen thuộc đến mức ta cho là quá bình thường và bình dân.
Nguyễn Trương Quý

