Kiến tạo siêu đô thị toàn cầu mang bản sắc Việt Nam
Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh mở rộng không gian phát triển và đứng trước cơ hội đột phá thể chế từ dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, kinh nghiệm “tăng trưởng do địa phương dẫn dắt” của Hàn Quốc mở ra hướng tiếp cận khả thi để đưa Thành phố trở thành siêu đô thị toàn cầu mang bản sắc Việt Nam vào năm 2075.

TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước thời điểm bản lề với ba lớp bối cảnh: đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045; Thành phố tròn 50 năm mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh và vừa mở rộng địa giới sau cuộc tái cấu trúc hành chính năm 2025; dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (bản ngày 10/6/2026) lần đầu tiên trao cho một đô thị Việt Nam quyền lập quy gần với “luật riêng”, cùng hàng trăm thẩm quyền được phân cấp.
Trên nền tảng kinh nghiệm trực tiếp trong Hệ thống đổi mới sáng tạo vùng (Regional Innovation System - RIS) của Hàn Quốc, bài viết lập luận rằng mô hình “tăng trưởng do địa phương dẫn dắt”, cấu trúc “5 cực 3 đặc khu” và nền tảng kinh tế tự chủ năng lượng của Hàn Quốc là khung tham chiếu khả thi nhất để hiện thực hóa Luật.

Bài viết đề xuất Ma trận thể chế hóa gồm bốn trục: (i) thể chế hóa RIS và phân cấp triệt để; (ii) xây dựng hành lang pháp lý cho cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, gắn với quy trình quản trị rủi ro nhằm bảo vệ cán bộ; (iii) phát triển tài chính đô thị và bộ lọc nhà đầu tư chiến lược tri thức; (iv) phát triển kinh tế tự chủ xanh và đô thị đáng sống. Mỗi trục kết nối trực tiếp các nhóm điều khoản của dự thảo Luật với mô hình tương ứng của Hàn Quốc. Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị bảy chương trình trọng điểm, lộ trình triển khai ba giai đoạn, bộ chỉ số KPI chiến lược và các khuyến nghị ở cấp quốc gia và cấp Thành phố.
Ba lớp bối cảnh và câu hỏi nghiên cứu
Lịch sử phát triển của các siêu đô thị cho thấy một quy luật bền vững: bước nhảy vọt về quy mô kinh tế hầu như không đến từ việc cộng dồn các dự án riêng lẻ, mà từ một đột phá thể chế cho phép nguồn lực, tri thức và vốn được tổ chức lại theo một logic vận hành mới. TP. Hồ Chí Minh hôm nay đang hội tụ đồng thời ba lớp bối cảnh hiếm có, tạo nên một “cửa sổ cơ hội” mà nếu nắm bắt được sẽ định hình quỹ đạo phát triển của cả vùng và quốc gia trong nửa thế kỷ tới.

Thứ nhất, ở tầm quốc gia, Việt Nam đã xác lập khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, dựa trên các trụ cột được Bộ Chính trị thể chế hóa gần đây: đột phá khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Nghị quyết 57-NQ/TW); hội nhập quốc tế trong tình hình mới (Nghị quyết 59-NQ/TW); đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật (Nghị quyết 66- NQ/TW); và phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68-NQ/TW).
Thứ hai, ở tầm Thành phố, cuộc tái cấu trúc hành chính năm 2025 đã mở rộng địa giới Thành phố trên cơ sở hợp nhất không gian phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, hình thành một thực thể đô thị có quy mô dân số, kinh tế và công nghiệp lớn hơn nhiều lần trước đây. Một siêu đô thị mới đã ra đời về mặt địa lý - hành chính; điều còn thiếu là một bộ “hệ điều hành” thể chế tương xứng để vận hành nó.
Thứ ba, ở tầm pháp lý, dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (bản ngày 10/6/2026) chính là bộ hệ điều hành ấy. Lần đầu tiên một đô thị Việt Nam được trao quyền lập quy ở mức gần với “luật riêng”: trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Đô thị đặc biệt và các luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề thì áp dụng Luật Đô thị đặc biệt (1); Thành phố được ban hành văn bản quy phạm khác với văn bản của trung ương và thí điểm cơ chế, chính sách mới chưa có tiền lệ. Dự thảo định vị đô thị đặc biệt là “đô thị tầm quốc tế, có năng lực cạnh tranh toàn cầu theo mô hình đa cực, đa trung tâm… cực đổi mới sáng tạo và hội nhập quan trọng của cả nước”2.

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Thành phố không thiếu khát vọng, không thiếu vốn, cũng không thiếu thẩm quyền trên giấy. Điểm nghẽn thật sự nằm ở chỗ khác: làm thế nào để biến những quyền năng thể chế chưa từng có ấy thành năng lực vận hành thực tế “đủ nhanh và đủ an toàn” trong một bộ máy hành chính vốn quen với tâm lý e ngại rủi ro pháp lý.
Là một trí thức người Việt làm việc trong môi trường chính sách Hàn Quốc và tham gia mạng lưới chuyên gia về Hệ thống đổi mới sáng tạo vùng, tôi cho rằng Hàn Quốc chứ không chỉ các mô hình thường được nhắc tới như Singapore hay Dubai là tấm gương sát hợp nhất cho Thành phố ở giai đoạn này.
Hàn Quốc đang trải qua “cuộc đại chuyển đổi lần thứ ba”: từ công nghiệp hóa và dân chủ hóa sang giai đoạn “tăng trưởng do địa phương dẫn dắt” (지방주도성장), với chiến lược “5 cực 3 đặc khu” (5극3특) nhằm chuyển từ cấu trúc đơn cực tập trung vào Thủ đô sang một quốc gia phân tán đa cực3. Đây chính là bài toán mà Việt Nam và TP. Hồ Chí Minh đang đối mặt, chỉ khác về thời điểm trên đường cong phát triển; kinh nghiệm Hàn Quốc vì thế là một “bản thiết kế đang vận hành” có thể nội địa hóa.

Bài viết tập trung trả lời câu hỏi chiến lược: Khi Dự thảo Luật đã trao cho Thành phố cơ chế “loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý khi không vụ lợi” tại Điều 44, làm thế nào để cụ thể hóa quy trình quản trị rủi ro khoa học này thành các bước vận hành thực tế, tạo động lực tâm lý để đội ngũ cán bộ tự tin bắt tay với trí thức quốc tế và doanh nghiệp, đưa mô hình RIS và nền kinh tế tự chủ xanh vào cuộc sống nhanh nhất?
Về phương pháp, bài viết sử dụng phân tích thể chế so sánh định tính: Khung PESTEL và phân tích SWOT để đánh giá hiện trạng; đối sánh quốc tế (benchmarking); và lập bản đồ thể chế hóa nối từng nhóm điều khoản của Dự thảo Luật với một mô hình thực tiễn Hàn Quốc. Các số liệu định lượng trong bài mang tính tham chiếu, minh họa để định hướng chính sách và cần được đối chiếu với dữ liệu thống kê cập nhật trước khi đưa vào văn kiện chính thức.
Mô hình tăng trưởng
do địa phương dẫn dắt của Hàn Quốc
Mô hình tăng trưởng do địa phương dẫn dắt của Hàn Quốc vận hành trên sáu cấu phần gắn kết.
Một là, một thiết chế điều phối cấp quốc gia (Ủy ban Thời đại Địa phương trực thuộc Tổng thống) bảo đảm tính nhất quán chính sách.
Hai là, cấu trúc “05 cực 03 đặc khu” phân vai chuyên môn hóa cho từng vùng, chấm dứt tình trạng các địa phương cạnh tranh dàn trải cùng một ngành.
Ba là, nền tảng đổi mới sáng tạo vùng dưới hình thức pháp nhân quỹ, quy tụ năm chủ thể và phân phối lợi tức.
Bốn là các “đặc khu tự do quy định” (Regulatory Free Zones) cho phép thử nghiệm công nghệ và mô hình kinh doanh mới trong khuôn khổ kiểm soát.
Năm là, vai trò đại học vùng làm động cơ đổi mới, gắn với cơ chế tái đầu tư dựa trên hiệu quả.
Sáu là nền tảng kinh tế tự chủ năng lượng (năng lượng tái tạo kết hợp AI và hạ tầng số) làm cơ sở vật chất cho tăng trưởng vùng.
Bảng 1: Đối chiếu cấu trúc “5 cực 3 đặc khu” của Hàn Quốc với tiềm năng định vị của TP. Hồ Chí Minh và Vùng Đô thị đặc biệt, cho thấy khả năng nội địa hóa rất cao.

Bài học cốt lõi cho Thành phố không nằm ở việc sao chép tên gọi các vùng, mà ở ba nguyên lý thể chế: (i) chuyên môn hóa và phân vai vùng để tránh dàn trải; (ii) thiết chế hóa nền tảng đổi mới sáng tạo vùng kèm cơ chế chia lợi tức để tăng trưởng được chia sẻ; và (iii) coi tự chủ năng lượng xanh là hạ tầng nền của nền kinh tế tri thức.
Hiện trạng và đối sánh quốc tế
Sau tái cấu trúc 2025, TP. Hồ Chí Minh hội tụ ba cấu phần vốn tách rời: Lõi Tài chính - Dịch vụ - Đổi mới sáng tạo, vành đai công nghiệp chế tạo, và cụm cảng biển nước sâu. Đây là cấu trúc “ba trong một” hiếm có trong khu vực, nhưng cũng đặt ra bài toán tích hợp vận hành. Bảng 02 tóm tắt phân tích SWOT.

Đối sánh nhanh với 6 siêu đô thị tham chiếu cho thấy dư địa và hướng đi của Thành phố.
So với Singapore và Dubai, Thành phố cần học mô hình trung tâm tài chính quốc tế dựa trên nền pháp quyền minh bạch và cơ chế đặc khu linh hoạt. So với Thâm Quyến, bài học là tốc độ thử nghiệm thể chế của đặc khu kinh tế và liên kết chặt giữa chế tạo với đổi mới sáng tạo.
So với Seoul, đó là chính quyền số và quản trị bằng dữ liệu. So với Tokyo và Thượng Hải, đó là chiều sâu Nghiên cứu - Phát triển và năng lực tổ chức không gian đô thị quy mô lớn. Điểm nghẽn chung mà Thành phố cần vượt qua không phải là tiềm năng, mà là năng lực thực thi thể chế, độ sâu của thị trường vốn và chất lượng hạ tầng.
Ma trận thể chế hóa bốn trục:
Từ điều khoản đến năng lực vận hành
Đây là phần đóng góp trung tâm của bài viết. Ma trận nối mỗi nhóm điều khoản của Dự thảo Luật với một mô hình vận hành đã được kiểm chứng của Hàn Quốc, biến quyền năng trên giấy thành quy trình và năng lực thực tế.
Trục 1: Thể chế hóa RIS và phân cấp triệt để
Dự thảo Luật cho phép Thành phố tự chủ tổ chức bộ máy, quyết định tổng biên chế tăng không quá 20% so với mức trung ương giao, tự cân đối chi trả lương và áp dụng chính sách thu nhập vượt trội4; đồng thời được ban hành văn bản khác với quy định của trung ương.
Đối chiếu với Hàn Quốc, các thẩm quyền này cần được “lắp” vào một kiến trúc Hệ thống đổi mới sáng tạo vùng có chủ thể điều phối rõ ràng. Kiến nghị cụ thể: thiết lập một Hội đồng điều phối Vùng Đô thị đặc biệt (mô phỏng Ủy ban Thời đại Địa phương) và một nền tảng đổi mới sáng tạo cấp vùng dưới hình thức pháp nhân quỹ, vận hành bằng Quỹ phát triển vùng theo cơ chế liên kết Đông Nam bộ - Đồng bằng sông Cửu Long mà Dự thảo Luật đã mở đường.

Trục 2: Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát gắn với quy trình quản trị rủi ro (Điều 29 và Điều 44)
Đây là lời giải cho câu hỏi trung tâm của Hội thảo. Dự thảo Luật cho phép thử nghiệm có kiểm soát (sandbox)5 và quy định loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ khi hành động không vụ lợi và tuân thủ đúng quy trình6.
Tuy nhiên, để Điều 44 thực sự tạo “động lực tâm lý” chứ không dừng ở nguyên tắc, cần một quy trình quản trị rủi ro khoa học gồm năm bước: (i) Đăng ký trước phạm vi thử nghiệm và mục tiêu để xác lập “vùng an toàn pháp lý” (safe harbor); (ii) Thẩm định độc lập bởi một hội đồng Chuyên gia - Pháp lý; (iii) Lập hồ sơ ra quyết định minh bạch, chứng minh tính “không vụ lợi” và “đúng quy trình”; (iv) Giới hạn không gian và thời gian thử nghiệm; (v) Đánh giá sau thử nghiệm để quyết định nhân rộng hay dừng. Kiến nghị tạo một “vùng xanh pháp lý” thí điểm tại Khu đô thị Thủ Đức - Một địa bàn xác định nơi quy trình này vận hành đầu tiên - để chuyển Điều 44 từ nguyên tắc thành sự tự tin vận hành của đội ngũ cán bộ.
Trục 3: Tài chính đô thị và bộ lọc nhà đầu tư chiến lược tri thức
Dự thảo Luật cho phép thành lập Khu thương mại tự do với giao dịch ngoại tệ thông thoáng và Trung tâm tài chính quốc tế cùng chi nhánh sàn giao dịch7; đồng thời đặt ra ngưỡng nhà đầu tư chiến lược và ưu đãi đầu tư hấp dẫn với thuế suất 05% trong thời gian dài8.
Bài học từ Hàn Quốc và Singapore là chất lượng quan trọng hơn quy mô dòng vốn. Kiến nghị xây dựng một “bộ lọc nhà đầu tư chiến lược tri thức”: Ưu tiên nhà đầu tư cam kết chuyển giao công nghệ, đặt trung tâm R&D và phát triển nhân lực, chứ không chỉ rót vốn - Chấm điểm dựa trên mức độ lan tỏa tri thức. Trung tâm tài chính quốc tế và Khu thương mại tự do là hai phương tiện để hiện thực hóa bộ lọc này.
Trục 4: Kinh tế tự chủ xanh và đô thị đáng sống
Dự thảo Luật cho phép phát hành trái phiếu đô thị và trái phiếu xanh, thu từ tín chỉ các-bon và lập quỹ đầu tư mạo hiểm9; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia10.
Đối chiếu với nền tảng kinh tế tự chủ năng lượng của Hàn Quốc, kiến nghị xây dựng một “Quỹ chia lợi tức năng lượng cộng đồng”: các dự án năng lượng tái tạo có một phần lợi nhuận chảy vào pháp nhân quỹ và được phân phối lợi tức cho cộng đồng địa phương - Chính là mô hình chia lợi tức của Hàn Quốc được nội địa hóa, lấy trái phiếu xanh làm nguồn vốn mồi. Mô hình này vừa tài trợ cho đô thị xanh, vừa tạo sự đồng thuận xã hội cho chuyển đổi năng lượng.

Định vị chiến lược, chương trình trọng điểm
và quyền lực mềm
Trên nền Ma trận bốn trục, TP. Hồ Chí Minh nên theo đuổi đồng thời bảy định vị bổ trợ lẫn nhau: Trung tâm tài chính quốc tế, Trung tâm AI và công nghệ cao của Đông Nam Á, Trung tâm logistics khu vực, Trung tâm Đổi mới sáng tạo toàn cầu, Thành phố Xanh - Thông minh - Đáng sống, Thành phố đa trung tâm và đầu mối kết nối vùng Đông Nam bộ với Đồng bằng sông Cửu Long.
Bảy định vị này được vận hành thông qua bảy chương trình trọng điểm tại Bảng 3.

Quyền lực mềm và nguồn lực kiều bào. Một siêu đô thị toàn cầu mang bản sắc Việt Nam không chỉ cạnh tranh bằng GRDP mà còn bằng sức hấp dẫn văn hóa. Việc Dự thảo Luật cho phép phát triển công nghiệp văn hóa và hình thành các tổ hợp công nghiệp sáng tạo (Điều 24) mở đường để Thành phố trở thành một trung tâm quyền lực mềm của khu vực: Điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, ẩm thực và du lịch sáng tạo.
Đặc biệt, mạng lưới trí thức và doanh nhân người Việt toàn cầu, trong đó có cộng đồng tại Hàn Quốc là một tài sản chiến lược cần được thể chế hóa: Vừa là kênh thu hút nhân tài và vốn, vừa là cầu nối chuyển giao tri thức và mở rộng ảnh hưởng quốc tế của Thành phố.
Lộ trình ba giai đoạn, KPI và kịch bản
Chiến lược được triển khai theo ba giai đoạn: 2026 - 2030 đặt nền thể chế; 2031 - 2035 tăng tốc; 2036 - 2045 dẫn dắt khu vực và hội tụ thu nhập cao. Bảng 4 tích hợp các mốc trọng tâm và bộ chỉ số KPI chiến lược.

Ba kịch bản
Kịch bản tốt nhất: Thực thi thể chế đầy đủ và đồng bộ, Thành phố trở thành một trong những siêu đô thị dẫn dắt khu vực vào năm 2045 và là siêu đô thị toàn cầu mang bản sắc Việt Nam vào năm 2075.
Kịch bản trung bình: Thực thi từng phần, Thành phố tăng trưởng mạnh nhưng chưa vươn lên nhóm dẫn dắt khu vực.
Kịch bản rủi ro cao: Khoảng cách thực thi kéo dài, cộng hưởng với rủi ro khí hậu và địa chính trị, khiến Thành phố đối mặt nguy cơ mắc bẫy thu nhập trung bình. Biến số quyết định phân hóa ba kịch bản chính là năng lực vận hành thể chế, đặc biệt là việc đưa Điều 44 và cơ chế sandbox vào cuộc sống.
Khuyến nghị chiến lược
Với Bộ Chính trị: Giữ vững tính nhất quán của định hướng thể chế xuyên suốt nhiệm kỳ; bảo vệ trên thực tế đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm; xác lập TP. Hồ Chí Minh là hình mẫu thí điểm thể chế cấp quốc gia, từ đó rút kinh nghiệm nhân rộng.
Với Quốc hội: Thông qua Luật Đô thị đặc biệt với các cơ chế đột phá được giữ nguyên hiệu lực, nguyên tắc áp dụng “luật riêng” (Điều 5), cơ chế miễn trách nhiệm khi không vụ lợi (Điều 44) và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Điều 29); đồng thời cân nhắc một luật khung về đổi mới sáng tạo vùng làm nền cho cả nước.
Với Chính phủ: Ban hành sớm và đồng bộ các nghị định, quy chế hướng dẫn để Luật không “chờ” văn bản dưới luật; phân cấp thực chất gắn với nguồn lực; hậu thuẫn Trung tâm tài chính quốc tế và Khu thương mại tự do.
Với TP. Hồ Chí Minh: Ưu tiên cụ thể hóa quy trình năm bước của Điều 44 và “vùng xanh pháp lý” Thủ Đức; thiết lập nền tảng đổi mới sáng tạo vùng dưới hình thức pháp nhân quỹ; phát triển thị trường vốn đô thị và trái phiếu xanh; triển khai Global Talent Visa và bộ lọc nhà đầu tư chiến lược tri thức.
Với cộng đồng doanh nghiệp: Đồng đầu tư vào nền tảng đổi mới sáng tạo và các spin-off đại học; thực hành ESG; cam kết chuyển giao công nghệ và phát triển nhân lực thay vì chỉ tìm ưu đãi.
Với các trường đại học và viện nghiên cứu: Trở thành đầu tàu thương mại hóa công nghệ thông qua spin-off với cơ chế cho phép viên chức góp vốn (Điều 28); tham gia mạng lưới RIS Hàn - Việt để rút ngắn đường cong học hỏi và kết nối nhân tài toàn cầu.

TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước một cửa sổ cơ hội hiếm có, khi khát vọng quốc gia, quy mô đô thị mới và một khung pháp lý chưa từng có cùng hội tụ. Lập luận xuyên suốt của bài viết là: Biến số quyết định không còn là thẩm quyền trên giấy, mà là năng lực vận hành thể chế, khả năng đưa cơ chế miễn trách nhiệm (Điều 44), thử nghiệm có kiểm soát, nền tảng đổi mới sáng tạo vùng và mô hình chia lợi tức năng lượng xanh vào cuộc sống một cách nhanh và an toàn. Kinh nghiệm “tăng trưởng do địa phương dẫn dắt” của Hàn Quốc cho thấy điều này hoàn toàn khả thi nếu được thiết kế bài bản và có thiết chế điều phối phù hợp. Nếu
Ma trận thể chế hóa bốn trục được triển khai quyết liệt, Thành phố hoàn toàn có thể trở thành một siêu đô thị thu nhập cao dẫn dắt khu vực vào năm 2045, và một siêu đô thị toàn cầu mang đậm bản sắc Việt Nam vào năm 2075, đúng dịp tròn 100 năm ngày giải phóng, thống nhất đất nước.
---------
(1): Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), Điều 5 khoản 1 về áp dụng pháp luật.
(2): Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), Điều 2 về vị trí, vai trò của đô thị đặc biệt.
(3): Kim, H. M. (2025); mô hình “5 cực 3 đặc khu” (5극3특) và “tăng trưởng do địa phương dẫn dắt” (지방주도성장).
(4) Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), Điều 7 về tổng biên chế tăng không quá 20% so với mức trung ương giao; tự cân đối chi trả lương.
(5) Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), Điều 29 về thử nghiệm có kiểm soát (sandbox).
(6) Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), Điều 44 về loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý khi không vụ lợi.
(7) Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), Điều 20 (Khu thương mại tự do) và Điều 22 (Trung tâm tài chính quốc tế).
(8) Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), Điều 34 (tiêu chí nhà đầu tư chiến lược) và Điều 37 (ưu đãi đầu tư, thuế suất 5%).
(9) Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), Điều 31 về trái phiếu đô thị, trái phiếu xanh, thu từ tín chỉ các-bon và quỹ đầu tư mạo hiểm.
(10) Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (10/6/2026), các Điều 14, 18, 23 về kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển, mua bán điện trực tiếp (DPPA) và công nghiệp năng lượng.

