Kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Thảo luận tại Tổ 11 (Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng và Quảng Ngãi) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, sáng 5/8, các đại biểu quan tâm tới các nội dung về bảo vệ quyền lợi lao động, siết chặt quản lý thu phí và chuyển sang tư duy kiến tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự phiên thảo luận Tổ 11.
.jpg)
Cần xác lập lại định hướng xây dựng chính sách
Qua nghiên cứu hồ sơ dự án Luật, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Đặng Ngọc Huy, ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của Chính phủ và cơ quan thẩm tra. Dự thảo Luật đã cắt giảm một số thủ tục hành chính, tăng quyền chủ động cho doanh nghiệp trong chuẩn bị nguồn lao động, tăng cường trách nhiệm bảo vệ người lao động và bổ sung nhiều quy định nhằm phòng, chống môi giới bất hợp pháp, mua bán người và lừa đảo.

Cho rằng đó là những sửa đổi cần thiết và đáng ghi nhận, song đại biểu Đặng Ngọc Huy cũng cho rằng, dự thảo Luật mới giải quyết những điểm nghẽn về kỹ thuật quản lý, nhưng chưa thực sự tháo gỡ được điểm nghẽn lớn hơn, đó là điểm nghẽn về tư duy thể chế.
Muốn phát triển nhanh và bền vững thì trước hết phải có một thể chế kiến tạo. Theo tinh thần đó, khi sửa Luật này, đại biểu Đặng Ngọc Huy cho rằng, điều quan trọng không chỉ là sửa một số thủ tục hành chính, mà phải trả lời được một câu hỏi lớn: chúng ta sửa Luật để quản lý tốt hơn hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hay để hình thành một thị trường lao động quốc tế có sức cạnh tranh của Việt Nam?
“Đây là hai cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau. Nếu mục tiêu là quản lý, pháp luật sẽ tiếp tục thiên về quy định các điều kiện kinh doanh và kiểm soát hoạt động. Nhưng nếu mục tiêu là phát triển, pháp luật phải tạo động lực để doanh nghiệp mở rộng thị trường, để người lao động nâng cao kỹ năng và để nguồn nhân lực Việt Nam tham gia ngày càng sâu hơn vào thị trường lao động quốc tế. Đó cũng là yêu cầu đặt ra trong giai đoạn phát triển mới của đất nước”, đại biểu Đặng Ngọc Huy nhấn mạnh.
Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang già hóa dân số và thiếu hụt lao động có kỹ năng, cạnh tranh quốc tế không còn dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ mà dựa vào chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cần được nhìn nhận không chỉ là một chính sách việc làm, mà là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chủ động tham gia thị trường lao động quốc tế.
“Tư duy này cần được thể hiện ngay trong Điều 4 của dự thảo Luật, vì đây là điều quy định về chính sách của Nhà nước - nói cách khác, là linh hồn của đạo luật”.
Trên tinh thần đó, đại biểu Đặng Ngọc Huy đề nghị nghiên cứu bổ sung vào Điều 4 một nguyên tắc mang tính định hướng như sau: Nhà nước phát triển hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chủ động tham gia thị trường lao động quốc tế; khuyến khích phát triển lao động có kỹ năng, lao động chất lượng cao và có cơ chế khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau khi người lao động hoàn thành hợp đồng trở về nước.
“Khi Điều 4 xác lập được nguyên tắc này, toàn bộ các quy định phía sau về điều kiện kinh doanh, phát triển thị trường, đào tạo, bảo vệ người lao động và chính sách đối với người lao động sau khi trở về nước sẽ có cơ sở để được thiết kế theo cùng một tư duy nhất quán”, đại biểu nhấn mạnh.
Đại biểu cũng đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng đổi mới mạnh mẽ hơn về tư duy thể chế: chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ tiền kiểm sang hậu kiểm; và từ tư duy quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sang tư duy phát triển nguồn nhân lực quốc gia thông qua sự tham gia chủ động của Việt Nam vào thị trường lao động quốc tế.
Siết chặt hậu kiểm, tăng "hàng rào" bảo vệ người lao động
Đánh giá cao chính sách ưu tiên lao động có kỹ năng và sử dụng nguồn nhân lực sau khi về nước (khoản 2 Điều 1, sửa đổi khoản 1 Điều 4), ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) cho rằng, đây là nội dung có sức nặng chiến lược nhất của lần sửa đổi này, với việc chuyển định hướng từ “đưa được bao nhiêu người” sang “đưa được người như thế nào và thu về được gì”.
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng nhận thấy, quy định trong dự thảo Luật về cơ chế, chính sách đặc thù chưa có nội hàm tối thiểu và giao toàn bộ cho Chính phủ. “Nếu Luật không định khung, chính sách rất dễ chậm đi vào cuộc sống”, đại biểu bày tỏ quan ngại.

Mặt khác, quy định về kết nối thông tin việc làm cho người lao động về nước trong dự thảo Luật mới chỉ mang tính khuyến nghị, chưa gắn với chủ thể chịu trách nhiệm và chưa gắn với cơ sở dữ liệu. Đại biểu lưu ý, đây mới là khâu quyết định việc chúng ta đưa 900.000 lao động thành vốn nhân lực hay để lãng phí.
Từ những vấn đề nêu trên, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị, cơ quan soạn thảo cần bổ sung ngay trong dự thảo Luật khung tối thiểu của “cơ chế đặc thù” gồm: hỗ trợ đào tạo nghề và ngoại ngữ, tín dụng ưu đãi, ưu tiên với lao động thuộc hộ nghèo, vùng dân tộc thiểu số.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị, cần luật hóa trách nhiệm ghi nhận kỹ năng nghề tích lũy ở nước ngoài vào cơ sở dữ liệu và cơ chế công nhận, đánh giá kỹ năng khi về nước. Đồng thời, giao trách nhiệm cụ thể cho UBND cấp tỉnh trong kết nối việc làm cho lao động hồi hương, gắn với sàn giao dịch việc làm và doanh nghiệp FDI trên địa bàn.
.jpg)
Cùng với chính sách ưu tiên lao động có kỹ năng và sử dụng nguồn nhân lực sau khi về nước, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đề nghị, dự thảo Luật cần có cơ chế bảo vệ người lao động trong hoạt động chuẩn bị nguồn lao động của doanh nghiệp.
Dự thảo Luật đã bỏ thủ tục đăng ký chuẩn bị nguồn lao động, cho doanh nghiệp chủ động chuẩn bị nguồn, chỉ thông báo đến UBND cấp xã trước 3 ngày. Việc cắt giảm thủ tục này có ưu điểm rút ngắn thời gian đáp ứng đơn hàng, giảm chi phí tuân thủ, nâng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng, chuẩn bị nguồn lao động là khâu phát sinh rủi ro xã hội lớn nhất trong toàn bộ chuỗi bởi lẽ đây là nơi diễn ra tình trạng cò mồi, thu phí trước trái phép, hứa hẹn sai sự thật ở địa bàn nông thôn, miền núi, nơi người dân thường phải vay nợ để được đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Việc bỏ tiền kiểm mà hậu kiểm không đủ mạnh thì rủi ro sẽ dồn hết về phía người lao động và gia đình họ.
Do đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị, cần bổ sung nguyên tắc hậu kiểm ngay trong dự thảo Luật theo hướng: kiểm tra dựa trên dữ liệu, mức độ rủi ro và lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp, giao Chính phủ quy định tiêu chí phân loại rủi ro và thẩm quyền tạm dừng hoạt động.
.jpg)
Đồng thời, bổ sung thẩm quyền xử lý vi phạm theo thẩm quyền và trách nhiệm cập nhật dữ liệu cho cấp xã; quy định rõ trách nhiệm chủ trì của cấp tỉnh, tránh giao việc vượt quá khả năng của cấp xã; giao Chính phủ quy định mức trần và nguyên tắc xác định trách nhiệm tài chính khi chấm dứt tham gia chuẩn bị nguồn trước hạn, bảo đảm cân bằng lợi ích hai bên; công khai danh sách doanh nghiệp và kế hoạch chuẩn bị nguồn trên cơ sở dữ liệu để người dân tự kiểm chứng, đây là biện pháp hậu kiểm ít tốn kém nhất và hiệu quả nhất.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng cho rằng, cùng với việc mở đường cho giá trị gia tăng trong hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, dự thảo Luật cần bổ sung, củng cố “hàng rào” bảo vệ người lao động nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững lĩnh vực này.
Cần xác lập nguyên tắc Nhà nước phát triển hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như một bộ phận của chiến lược nhân lực quốc gia
Tán thành với việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong hoạt động chuẩn bị nguồn lao động, song ĐBQH Trần Thị Thu Phước (Quảng Ngãi) cũng đề nghị, cần siết chặt cơ chế chuẩn bị nguồn, cấm thu phí dưới mọi tên gọi trước khi người lao động được tuyển chọn.
.jpg)
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị, cần có quy định kênh liên lạc an toàn cho nhóm nghề biệt lập như giúp việc gia đình; đồng thời, có chính sách cụ thể cho nhân lực chất lượng cao. Theo đại biểu, nên phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

