Kiểm soát khí thải giao thông trong bài toán lớn về chất lượng không khí quốc gia
Để lộ trình kiểm soát khí thải từ phương tiện giao thông khả thi và bền vững, đòi hỏi chính sách không chỉ dừng ở ban hành quy chuẩn, mà còn phải được tiếp cận đồng bộ về hạ tầng, công nghệ, giám sát và bảo đảm an sinh xã hội.
Những tháng đầu năm 2025 đã chứng kiến tình trạng ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn, đặc biệt là TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh ở mức báo động rất cao. Một trong những nguyên nhân, theo các chuyên gia đó là sự gia tăng nhanh chóng của phương tiện giao thông cá nhân.
Thực tế, mỗi năm, tại hai thành phố lớn, lượng khí thải do xe cơ giới, nhất là xe máy hoạt động sản sinh ra khoảng 300 nghìn tấn khí CO, 25 nghìn tấn khí HC; hàng chục nghìn tấn bụi, bụi mịn.
Do đó, chủ trương kiểm soát khí thải giao thông là một trong những nhiệm vụ cấp bách để giảm ô nhiễm không khí, xây dựng các đô thị đáng sống, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Từ góc độ một đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi cho rằng, việc ban hành lộ trình để kiểm soát ô nhiễm không khí do các phương tiện giao thông gây ra là rất cần thiết, trong đó có việc kiểm định đối với các phương tiện cơ giới bao gồm ô tô, xe mô tô, xe gắn máy.
Thủ tướng đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về ô nhiễm và quản lý chất lượng không khí giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn năm 2045 (Quyết định số 2530/QĐ-TTg). Trong đó, đề ra mục tiêu đến năm 2030, 100% phương tiện tham gia giao thông đường bộ bao gồm xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy được quản lý kiểm soát về khí thải theo lộ trình áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải của phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Tuy nhiên theo đại biểu Tạ Đình Thi, để đảm bảo lộ trình thực sự khả thi, cần quan tâm đến các biện pháp thực hiện, trong đó nhấn mạnh một số yếu tố:
Thứ nhất, cần ban hành hệ thống tiêu chuẩn quy chuẩn và cần tính toán để tiêu chuẩn, quy chuẩn bảo đảm tính khả thi về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh, xã hội.
Thứ hai, phải có lộ trình về hạ tầng phục vụ công tác kiểm định, cùng với đó là đảm bảo về đội ngũ kỹ thuật, công nghệ áp dụng tiên tiến. Ở góc độ các cơ quan kiểm định, quản lý như ngành môi trường, ngành giao thông vận tải, cơ quan có trách nhiệm xử phạt như lực lượng công an cũng cần đảm bảo công tác này.

Thứ ba, phải tính toán đầy đủ lợi ích của các bên liên quan có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên. Chính sách phải bảo đảm tính đồng bộ nhưng đồng thời phải cân nhắc để chính sách gắn bó mật thiết đến an sinh xã hội, đảm bảo hài hoà với sinh kế của người dân.
Thứ tư, cần thiết lập một cơ chế giám sát, xử phạt một cách hiệu quả. Trong đó, các cơ chế giám sát phải ứng dụng công nghệ mới nhất như trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số.
Kinh nghiệm một số quốc gia như Ấn Độ cũng có lượng phương tiện cơ giới đường bộ lớn như Việt Nam nhưng khi triển khai quy mô lớn, cần có cách phối hợp, tham gia của các lực lượng khác nhau. Do đó, cần quan tâm cơ chế phối hợp giữa các lực lượng các cơ quan liên quan, bảo đảm thực thi một cách công khai, minh bạch và hiệu quả.
“Ngoài ra việc chuyển đổi nhiên liệu, chuyển đổi các phương tiện về năng lượng phải là một chính sách có tính chất tổng thể, đồng bộ, có lộ trình rõ ràng, việc truyền thông đến các đối tượng liên quan phải rất hiệu quả, để người dân thực sự hiểu”, đại biểu Tạ Đình Thi nhấn mạnh.

