Không lạc quan nhưng cũng không nên lo lắng quá về nợ công
Nợ công là vấn đề ĐBQH hết sức quan tâm. Đến hết 31.12.2012 nợ công ước tính là 58,4%. Chỉ số này được tính toán trên cơ sở dự kiến kịch bản tăng trưởng 6%, nếu như kịch bản tăng trưởng đạt được 6,5% thì tỷ lệ nợ công sẽ giảm thấp hơn đáng kể. Về cơ cấu nợ công, nợ ODA chiếm 75%, vay ưu đãi khác là 19%, vay thương mại là 7%.
Trong 75% nợ ODA thời gian vay rất dài với lãi suất ưu đãi. Vì vậy, khi so với các nước cần chú ý cơ cấu này, nhất là đối với nợ công ở các nước đã phát triển và các nước đã thoát khỏi ngưỡng nghèo không giống nước ta, nợ công của họ phần nợ vay thương mại rất nhiều. Về phương pháp tính cũng khác nhau. Các nước đã phát triển như châu âu tính theo phương pháp tỷ lệ theo giá trị dòng tiền, còn chúng ta tính theo phương pháp giá trị danh nghĩa. Nếu quy giá trị danh nghĩa này với giá trị dòng tiền hiện tại thì tỷ lệ nợ công của nước ta đã báo cáo với QH sẽ còn thấp hơn. Tuy nhiên, Chính phủ cũng đã tính toán cơ cấu này và sẽ có thay đổi khi khoản ODA và ưu đãi đang giảm dần và vay thương mại đang có xu hướng tăng lên, chúng ta đã được liệt vào danh sách các nước vào ngưỡng thu nhập trung bình. Chính phủ đã tính toán kỹ vấn đề này để có chiến lược, kế hoạch quản lý nợ công thích hợp cho từng giai đoạn.
Báo cáo QH, nợ nước ngoài chiếm 58% và đang có xu hướng giảm trong cơ cấu, còn nợ trong nước là 42% và đang có xu hướng tăng lên. Đây là xu hướng tốt, giúp chúng ta giảm được sự lệ thuộc vào nước ngoài và chủ động hơn trong việc vay nợ. Về quản lý và sử dụng ODA, tuyệt đại bộ phận các vốn ODA và vốn vay của nước ta tập trung cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Ví dụ, toàn bộ hệ thống các đường quốc lộ phía Bắc như quốc lộ số 5, số 10, số 18, quốc lộ 1A, đường Xuyên Á - Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, các hệ thống như cảng Cái Lân, nhà ga quốc tế Tân Sơn Nhất, cảng Hải Phòng, cảng Tiên Sa - Đà Nẵng, hàng loạt các cầu trong Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long như cầu Mỹ Thuận, Cần Thơ, Rạch Miễu. Riêng trái phiếu Chính phủ đã tập trung đầu tư cho 250 dự án đường ô tô thuộc xã, đã cải thiện một bước rất đáng kể cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đã dành trái phiếu này để xây dựng 57.723 phòng học, 18.942 phòng công vụ. Đến nay đã hoàn thành được 32.496 phòng học và 11.953 phòng công vụ. Kết quả sử dụng nợ công cũng đã làm cho tăng trưởng kinh tế của chúng ta trong 5 năm vừa qua đạt tỷ lệ 7,2%. Mức này cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực của chúng ta.
Hiện chúng ta đã có Luật Quản lý nợ công và Chính phủ cũng đã chỉ đạo, Bộ Tài chính đã xây dựng xong chiến lược quản lý và phát triển nợ công đến năm 2020 và đang trình Chính phủ xem xét. Bộ Tài chính đang chủ động xây dựng các kế hoạch trung hạn và các đề án hành động cụ thể để thực hiện chiến lược này nếu được phê duyệt. Chính phủ cũng đã chỉ đạo để hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch, tăng cường năng lực quản lý nợ, hiện nay tình hình nợ công được chấp nhận 3 tháng, 6 tháng một lần trên các bản tin của quản lý nợ. Chính phủ cũng đã cho phép Bộ Tài chính hay Cục quản lý nợ và tài chính nước ngoài như là một cơ quan chuyên môn giúp cho Chính phủ và cho Bộ Tài chính trong việc quản lý tập trung thống nhất vấn đề về nợ công. Chính phủ cũng đã chỉ đạo và đồng ý với Bộ Tài chính chủ trì để xây dựng một đề án xếp hạng tín nhiệm quốc gia để chúng ta nâng mức xếp hạng tín nhiệm bảo đảm cho việc vay nợ của Chính phủ cũng như cho doanh nghiệp trong thời gian tới một cách thuận lợi nhất, rẻ nhất.
Về trả nợ, nhiều ĐBQH nêu quan điểm, không quan trọng vay bao nhiêu mà quan trọng là trả nợ như thế nào. Báo cáo với QH, hiện nay trả nợ của Chính phủ chiếm khoảng 14-16% tổng ngân sách nhà nước. Ví dụ, năm tới đây, bố trí tổng khoảng 100 nghìn tỷ thì tổng chi là khoảng 900 nghìn tỷ, trong khi đó theo thông lệ quốc tế thì mức trả nợ an toàn là không quá 30% tổng thu ngân sách thì chúng ta mới sử dụng dư địa đến 14-16%. Chính phủ cũng nhận thức rất đúng là: quan trọng là vay như thế nào, sử dụng có hiệu quả như thế nào và khả năng trả nợ như thế nào. Cho nên, thời gian tới cùng với việc tăng cường quản lý sử dụng vay, tăng cường cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt là tái cơ cấu đầu tư công và các chỉ số vĩ mô như GDP, dự trữ ngoại hối, vấn đề tỷ giá được ổn định thì chúng tôi nghĩ quản lý nợ cũng sẽ được tốt hơn. Do đó, chúng tôi nghĩ chúng ta không lạc quan, nhưng cũng không nên quá lo lắng về nợ công. Xin QH cho giữ tỷ lệ nợ công đã trình theo kế hoạch 5 năm, đối với nợ quốc gia là không quá 50%, nợ Chính phủ không quá 53% và nợ công khoảng 60 - 65%.

