Thời sự Quốc hội

Không để từng cơ sở xả thải đúng quy chuẩn nhưng môi trường vẫn ô nhiễm

Tin: Hà Lan; Ảnh: Lâm Hiển • 24/10/2026 11:24

Thảo luận tại Tổ 3 sáng 24/10, các ĐBQH đề nghị đổi mới phương thức quản lý môi trường theo hướng kiểm soát tổng lượng phát thải và khả năng chịu tải, đồng thời cải cách thủ tục hành chính gắn với kiểm soát rủi ro, bảo vệ sức khỏe người dân.

Sáng 24/10, Tổ 3, gồm các Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng, tỉnh Hà Tĩnh và Lạng Sơn thảo luận về 3 nội dung: dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Trưởng Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng Lê Ngọc Châu, Tổ trưởng Tổ 3, điều hành phiên thảo luận
Trưởng Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng Lê Ngọc Châu, Tổ trưởng Tổ 3, điều hành phiên thảo luận

Cần xem xét tác động cộng hưởng của những nguồn thải hiện hữu

Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) cho rằng công tác quản lý hiện vẫn thiên về kiểm soát từng cơ sở, từng nguồn thải riêng lẻ, trong khi chưa đánh giá đầy đủ tác động tổng hợp và khả năng chịu tải của môi trường.

Theo đại biểu, thực tế có những khu vực, mỗi cơ sở sản xuất đều có giấy phép, từng nguồn xả thải đáp ứng quy chuẩn riêng, nhưng tổng lượng chất ô nhiễm từ nhiều nguồn thải cộng lại vẫn vượt khả năng tiếp nhận của môi trường. Tình trạng này đặc biệt đáng quan tâm tại các lưu vực sông chịu áp lực ô nhiễm lớn, khu công nghiệp tập trung và đô thị có mật độ xây dựng, giao thông cao.

Focused National Assembly Meeting
ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) phát biểu

Đại biểu ghi nhận dự thảo Luật đã bổ sung yêu cầu "kiểm soát tác động tích lũy tới môi trường" tại khoản 10 Điều 5, song cho rằng cần cụ thể hóa bằng các công cụ pháp lý trong quá trình quyết định đầu tư.

Theo đó, khi lập và điều chỉnh quy hoạch phải đánh giá khả năng chịu tải của môi trường, nhất là nguồn nước, không khí và khu vực tập trung nhiều cơ sở công nghiệp. Khi đánh giá tác động môi trường, cần xem xét tác động cộng hưởng với những nguồn thải hiện hữu, thay vì chỉ đánh giá riêng từng dự án. Đến khâu cấp phép, phải đối chiếu tải lượng phát thải được phép với khả năng tiếp nhận thực tế, tránh tình trạng từng giấy phép đều hợp lệ nhưng tổng lượng phát thải vượt khả năng chịu tải.

Cùng quan tâm đến vấn đề này, ĐBQH Nguyễn Đặng Ân (Lạng Sơn) đề nghị hoàn thiện quy định về quản lý khả năng chịu tải của môi trường nước mặt tại Điều 7.

ĐBQH Nguyễn Đặng Ân (Lạng Sơn) phát biểu
ĐBQH Nguyễn Đặng Ân (Lạng Sơn) phát biểu

Theo đại biểu, một nguồn nước có thể không còn khả năng tiếp nhận đối với một số thông số ô nhiễm nhưng vẫn còn khả năng tiếp nhận đối với những thông số khác. Vì vậy, cần đánh giá theo từng thông số, đồng thời xem xét tổng lượng chất thải, tác động tích lũy và khả năng phục hồi của nguồn nước.

"Nếu áp dụng tiêu chí quá cứng nhắc sẽ hạn chế hoạt động đầu tư không cần thiết; ngược lại, nếu quy định quá rộng có thể làm gia tăng ô nhiễm", đại biểu phân tích.

ĐBQH Nguyễn Đặng Ân đề nghị việc cho phép xả thải phải bảo đảm không làm gia tăng mức độ ô nhiễm đối với những thông số đã vượt khả năng chịu tải, đồng thời tạo điều kiện cho các dự án có giải pháp xử lý nước thải hiệu quả, tuần hoàn hoặc tái sử dụng nước.

Liên quan đến ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng đây là vấn đề tác động trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe hàng triệu người dân, nhưng trách nhiệm quản lý còn phân tán giữa các ngành môi trường, giao thông, xây dựng và chính quyền địa phương.

Đại biểu đề nghị thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, có dữ liệu nguồn phát thải và trách nhiệm giải trình cụ thể để cải thiện chất lượng không khí.

"Điều quan trọng là phải chuyển từ tư duy quản lý việc xả thải của từng cơ sở sang quản lý chất lượng môi trường mà người dân thực sự đang sống và chịu tác động", đại biểu nhấn mạnh.

Cắt giảm thủ tục nhưng không bỏ lọt nguy cơ ô nhiễm

Về cải cách thủ tục môi trường, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn đánh giá cao đề xuất của Chính phủ về cắt giảm đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và giấy phép môi trường, với mức dự kiến khoảng 90% theo hồ sơ trình Quốc hội.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị đánh giá thận trọng cơ sở và phương pháp xác định mức cắt giảm, bởi "giảm đối tượng phải thực hiện thủ tục không đồng nghĩa với giảm tương ứng mức độ rủi ro môi trường".

Theo đại biểu, có dự án vốn đầu tư lớn nhưng ít phát sinh chất thải, trong khi dự án quy mô nhỏ vẫn có thể phát sinh chất thải nguy hại, khí thải độc hại hoặc nằm tại khu vực có khả năng chịu tải môi trường thấp.

Đặc biệt, đại biểu lưu ý việc lược bỏ một số yếu tố nhạy cảm như khu dân cư tập trung và nguồn nước cấp sinh hoạt khi phân loại dự án.

"Một dự án có thể không lớn về công suất, nhưng nếu nằm sát khu dân cư đông đúc hoặc gần nguồn nước cấp sinh hoạt thì nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng rất đáng quan tâm", đại biểu nêu vấn đề.

Vì vậy, việc đơn giản hóa tiêu chí không được làm suy giảm khả năng nhận diện, phòng ngừa rủi ro. ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị bổ sung các tiêu chí về tính chất nguồn thải, tải lượng, độc tính, mức độ nhạy cảm của khu vực tiếp nhận và khả năng chịu tải của môi trường.

Đại biểu cũng cho rằng không nên miễn đánh giá tác động môi trường một cách cơ học đối với dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, bởi báo cáo đánh giá tác động môi trường của khu công nghiệp chưa chắc đã bao quát đầy đủ rủi ro đặc thù của từng dự án.

Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên thảo luận tổ
Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên thảo luận tổ

Ở góc độ đơn giản hóa thủ tục, ĐBQH Nguyễn Đặng Ân đề nghị phân định rõ đánh giá sơ bộ tác động môi trường trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư với đánh giá tác động môi trường ở giai đoạn triển khai dự án.

Theo đại biểu, đánh giá sơ bộ chỉ nên tập trung vào vị trí dự án, mức độ nhạy cảm của môi trường, nguy cơ tác động lớn và khả năng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

"Không nên yêu cầu đánh giá quá chi tiết những nội dung sẽ được xem xét đầy đủ ở bước tiếp theo, dẫn đến trùng lặp về hồ sơ và kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư", đại biểu nêu quan điểm.

Đối với dự án đầu tư công khẩn cấp, nhất là công trình xử lý thiên tai, sự cố, đại biểu đề nghị có cơ chế phù hợp để triển khai nhanh nhưng vẫn kiểm soát nguy cơ môi trường.

Từ yêu cầu vừa giảm thủ tục, vừa kiểm soát rủi ro, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn kiến nghị thiết lập chuỗi quản lý thống nhất từ phân loại rủi ro, đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép hoặc đăng ký môi trường đến hậu kiểm.

Đại biểu đề nghị Chính phủ làm rõ các nhóm dự án được miễn thủ tục, cơ chế quản lý thay thế và chi phí tuân thủ thực tế được cắt giảm, thay vì chỉ đánh giá hiệu quả cải cách bằng tỷ lệ cắt giảm thủ tục.

Liên quan đến cấp phép, ĐBQH Nguyễn Đặng Ân đề nghị làm rõ nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương, tránh vướng mắc đối với dự án có nhiều loại hình hoạt động hoặc thay đổi quy mô, công nghệ.

Đại biểu cũng kiến nghị quy định chuyển tiếp đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã hoạt động trước khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực nhưng chưa hoàn thiện thủ tục theo quy định mới. Theo đó, cần phân biệt cơ sở đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường với cơ sở có nguy cơ ô nhiễm hoặc vi phạm phải xử lý.

"Mục tiêu là đưa các cơ sở vào quản lý đầy đủ nhưng không tạo thêm những thủ tục không cần thiết", ĐBQH Nguyễn Đặng Ân nhấn mạnh.

    Không để từng cơ sở xả thải đúng quy chuẩn nhưng môi trường vẫn ô nhiễm
    • Mặc định