Khơi thông nguồn lực từ những dự án đang đình trệ
Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế ngày càng lớn, hàng nghìn dự án vẫn gặp vướng mắc về pháp lý, đất đai và quy hoạch, khiến nguồn lực đầu tư chưa được phát huy hiệu quả. Các chuyên gia cho rằng, cần phân loại đúng vướng mắc, hoàn thiện cơ chế chính sách và nâng cao trách nhiệm thực thi tại địa phương để sớm đưa nguồn lực này vào nền kinh tế.

Nguồn lực lớn từ các dự án tồn đọng
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13 - 15% mỗi năm, với nhu cầu vốn ước tính 280 - 300 tỷ USD/năm. Đây là tính toán được TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, đưa ra tại Hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn, Khơi thông nguồn lực, Thúc đẩy tăng trưởng” do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam và Hệ sinh thái Truyền thông Tài chính Người Quan Sát phối hợp tổ chức mới đây tại Hà Nội.
Theo TS. Cấn Văn Lực, ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 22% tổng nhu cầu vốn, phần còn lại chủ yếu phải huy động từ khu vực tư nhân trong và ngoài nước. Bên cạnh việc phát triển các kênh huy động vốn, tháo gỡ những dự án đang đình trệ là giải pháp thiết thực để khơi thông nguồn lực, tạo thêm động lực tăng trưởng tại các địa phương.
Thực tế, nguồn lực đang nằm trong các dự án gặp khó khăn, vướng mắc có quy mô rất lớn. Theo báo cáo của Bộ Tài chính - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 751, Hệ thống 751 ghi nhận cả nước có 5.012 dự án khó khăn, vướng mắc, với tổng diện tích sử dụng đất 213.581ha, tổng mức đầu tư gần 3,69 triệu tỷ đồng.
Trong đó, 3.557 dự án, chiếm 71% tổng số dự án, với tổng mức đầu tư hơn 2,49 triệu tỷ đồng, đã được xử lý, không còn khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, 855 dự án đã hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng; 2.121 dự án được tháo gỡ để tiếp tục triển khai; 581 dự án được thu hồi hoặc chấm dứt.
Bên cạnh đó, 1.131 dự án, với tổng mức đầu tư hơn 779.000 tỷ đồng, đang được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xử lý theo thẩm quyền. Có 158 dự án, tổng mức đầu tư hơn 229.000 tỷ đồng, được đề xuất giải quyết theo thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan Trung ương.
Từ kết quả rà soát, xử lý các dự án tồn đọng, TS. Cấn Văn Lực cho rằng đây là nguồn lực có thể đóng góp đáng kể cho tăng trưởng nếu tiếp tục được tháo gỡ và đưa vào nền kinh tế. Theo tính toán của chuyên gia, nếu trong giai đoạn 2026 - 2028, toàn bộ khoảng 5.000 dự án được tháo gỡ và mỗi năm có khoảng 30% lượng vốn này được bổ sung vào nền kinh tế, tăng trưởng GDP có thể tăng thêm 0,6 - 0,8 điểm phần trăm mỗi năm.
Kịch bản trên cho thấy tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng từ việc xử lý các dự án tồn đọng, bên cạnh yêu cầu huy động thêm nguồn vốn đầu tư mới. Tuy nhiên, để nguồn lực này thực sự phát huy hiệu quả, các chuyên gia nhấn mạnh cần tiếp tục phân loại đúng vướng mắc, có cơ chế xử lý phù hợp và nâng cao trách nhiệm thực thi tại địa phương, nhằm sớm đưa các dự án đủ điều kiện vào triển khai, khai thác và sử dụng.
Phân loại đúng vướng mắc, nâng cao trách nhiệm địa phương
Theo luật sư Phạm Thanh Tuấn, để tháo gỡ các dự án bất động sản tồn đọng, cần thực hiện ba bước: phân loại đúng vướng mắc, ban hành chính sách phù hợp và triển khai quyết liệt tại địa phương.
Trước hết, từng địa phương phải xác định cụ thể dự án đang vướng ở đâu, nguyên nhân là gì, từ đó phân định những vấn đề có thể chủ động giải quyết và những vấn đề cần cơ chế của Trung ương. Trên cơ sở này, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền mới có thể xây dựng giải pháp phù hợp với từng nhóm vướng mắc. Khi chính sách đã được ban hành, địa phương phải khẩn trương tổ chức thực hiện, tránh để dự án tiếp tục đình trệ.
Cùng quan điểm, TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đặt vấn đề cần làm rõ những vướng mắc nào phải xử lý bằng cơ chế của Trung ương, những việc nào chính quyền địa phương và các ngân hàng có thể chủ động thực hiện. Việc xác định đúng thẩm quyền và trách nhiệm của từng chủ thể là điều kiện để quá trình tháo gỡ chuyển từ đề xuất phương án sang giải quyết những khó khăn cụ thể tại từng dự án.
Yêu cầu này cũng được đặt ra tại cuộc họp mới đây của Ban Chỉ đạo 751 do Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chủ trì. Đối với 1.131 dự án đang được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xử lý theo thẩm quyền, Phó Thủ tướng Thường trực giao Bộ Tài chính phân loại theo từng cơ quan, thống nhất thời hạn hoàn thành để theo dõi, đôn đốc.
Đối với 158 dự án được đề xuất thuộc thẩm quyền xử lý của Trung ương, các cơ quan phải làm rõ từng vướng mắc, căn cứ pháp luật và phương án giải quyết; xác định cụ thể quy định cần sửa đổi, cơ quan chủ trì và thời hạn thực hiện. Trong đó, 34 dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội phải được tổng hợp, báo cáo Chính phủ trước ngày 30/10/2026. Bộ Tài chính cũng được giao hoàn thiện Hệ thống 751, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, thống nhất, phục vụ cập nhật và theo dõi tiến độ xử lý.
Bên cạnh việc xác định rõ thẩm quyền, tháo gỡ các vướng mắc pháp lý còn là điều kiện để dự án tiếp cận nguồn vốn và tiếp tục triển khai. Như luật sư Phạm Thanh Tuấn phân tích, ngân hàng có vai trò cung cấp vốn, nhưng chỉ có thể tài trợ khi dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý. Vì vậy, sự chủ động, quyết liệt của chính quyền địa phương trong giải quyết các thủ tục, vướng mắc thuộc thẩm quyền có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng khơi thông dòng vốn đầu tư.
Tuy nhiên, tháo gỡ không đồng nghĩa với việc tất cả dự án đều được tiếp tục triển khai. Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, trong số các dự án đã được xử lý, có dự án hoàn thành, đưa vào khai thác; có dự án được tháo gỡ để tiếp tục thực hiện, nhưng cũng có dự án phải thu hồi hoặc chấm dứt. Thực tế này cho thấy, bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ giải quyết, cần lựa chọn phương án phù hợp với tình trạng của từng dự án, bảo đảm nguồn lực đất đai và vốn đầu tư được đưa vào khai thác, sử dụng hiệu quả.

