Khoa học công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu sốỨng dụng công nghệ sản xuất theo chuỗi giá trị
Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025 đã tạo ra nhiều mô hình sản xuất hàng hóa quy mô lớn, theo chuỗi giá trị, mang lại nguồn thu hàng tỷ đồng.
Hình thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn
Tại Ninh Bình, cây khoai tây từ lâu được đánh giá là cây trồng có giá trị kinh tế cao, song năng suất chưa tương xứng bởi tư duy sản xuất truyền thống manh mún, thiếu liên kết và phụ thuộc vào thương lái làm cho sản phẩm này chỉ dừng ở mức thời vụ. Với sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Công ty TNHH MTV Minh Dương đã triển khai dự án ứng dụng công nghệ mới trong trồng, bảo quản và chế biến khoai tây thương phẩm theo mô hình liên kết chuỗi giá trị.

Theo ông Nguyễn Văn Thủy, Giám đốc Công ty TNHH MTV Minh Dương, dự án đã giúp doanh nghiệp liên kết với các hợp tác xã xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP quy mô hơn 150ha, đưa giống khoai tây Solara sạch bệnh vào sản xuất đại trà. Nhờ áp dụng đồng bộ các quy trình kỹ thuật tiên tiến, năng suất bình quân đạt gần 20 tấn/ha, cao hơn mức trung bình trước đây.
Không chỉ trong lĩnh vực cây lương thực, Chương trình còn góp phần hình thành nhiều vùng sản xuất hoa, cây cảnh ứng dụng công nghệ cao với giá trị kinh tế vượt trội. TS. Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh cho biết, trong 10 năm qua đã tham gia chuyển giao công nghệ cho 20 dự án, chuyển giao hơn 40 quy trình kỹ thuật về nhân giống, trồng và chăm sóc hoa; xây dựng 45 mô hình sản xuất và nhân giống hoa chất lượng cao tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước.
Từ các dự án này, nhiều giống hoa có giá trị kinh tế cao như lan Hồ Điệp, lan Đai Châu, lily, đồng tiền, cúc... đã được đưa vào sản xuất quy mô lớn. Đặc biệt, các mô hình lan Hồ Điệp và LiLy tại Hải Phòng, Gia Lâm (Hà Nội), Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Quảng Ninh, Điện Biên... đạt giá trị sản xuất từ 2,5 - 3 tỷ đồng/ha/năm, cao gấp nhiều lần so với các loại cây trồng truyền thống.
Có thể thấy, từ chỗ lạ lẫm với công nghệ mới, thông qua Chương trình nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư, tiếp cận kỹ thuật hiện đại và từng bước thay đổi tư duy, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn.
Từ nguyên liệu thô đến những sản phẩm giá trị cao
Nếu các vùng nguyên liệu tập trung là nền tảng của sản xuất hàng hóa thì chế biến sâu chính là khâu quyết định về giá trị gia tăng. Đây cũng là xu hướng nổi bật của nhiều dự án thuộc Chương trình trong những năm qua.
Đơn cử như, cùng với việc xây dựng vùng nguyên liệu khoai tây đạt chuẩn, Công ty Minh Dương đã đầu tư hệ thống kho lạnh, kho mát và dây chuyền chế biến hiện đại, nâng công suất sơ chế và chế biến lên 5 tấn/ngày. Từ nguyên liệu khoai tây tươi, doanh nghiệp phát triển thành công các dòng sản phẩm khoai tây sấy đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế; trong đó sản phẩm khoai tây sấy vị tự nhiên đạt OCOP 4 sao và sản phẩm khoai tây sấy vị phô mai đạt OCOP 5 sao cấp quốc gia. Đến năm 2025, doanh thu từ các sản phẩm chế biến đã vượt mốc 1 tỷ đồng và tiếp tục tăng trưởng.
Một mô hình khác cho thấy hiệu quả rõ nét của việc gia tăng giá trị sản phẩm thông qua công nghệ là dự án phát triển nghề nuôi ong mật tại khu vực tỉnh Phú Thọ. Thông qua dự án, Công ty cổ phần Ong Tam Đảo đã tiếp nhận và làm chủ 15 quy trình công nghệ trong nuôi ong, sơ chế, bảo quản và chế biến các sản phẩm từ ong mật. Nhờ ứng dụng công nghệ mới, năng suất mật ong tăng từ 10 - 15kg lên 36kg/đàn/năm; thu nhập của các hộ dân tham gia mô hình đạt gần 468 triệu đồng/năm.
Trong khi đó, tại Ninh Thuận, công nghệ nuôi cấy mô invitro đã mở ra hướng đi mới cho ngành nha đam; ông Nguyễn Đức Thuận, Giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm Cánh Đồng Việt cho biết, dự án đã xây dựng thành công mô hình nhân giống nha đam sạch bệnh bằng công nghệ nuôi cấy mô, hình thành vùng chuyên canh đạt tiêu chuẩn VietGAP quy mô 30ha cùng hệ thống vườn đầu dòng phục vụ sản xuất giống. Mô hình đã thay đổi tư duy sản xuất từ cách làm truyền thống sang sản xuất theo quy trình khoa học, gắn với nhu cầu thị trường và chuỗi chế biến xuất khẩu.
Rõ ràng khi công nghệ được đưa vào đúng khâu then chốt, sản phẩm địa phương không chỉ tăng năng suất mà còn nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và từng bước chinh phục những thị trường lớn. Đó cũng là nền tảng để nhiều địa phương chuyển từ khai thác lợi thế tài nguyên sang phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn phát triển mới.

