Khiến cho du khách mở hầu bao
Bấy lâu nay vẫn nghe thiên hạ, chứng minh một cách khoa học có, đồn thổi với nhau như một huyền thoại cũng có, rằng hai dân tộc buôn bán giỏi nhất trên thế giới này, là người Do Thái và người Trung Quốc. Rằng họ, dù lúc nào và ở bất cứ quốc gia nào, cũng luôn có những nhân vật làm kinh doanh cực giỏi, tích lũy được những khối tài sản khổng lồ, đáng để gọi là “phú gia địch quốc”. Và rằng họ, với đồng tiền của mình, theo những cách thức nào đó còn tạo ra những thế lực ngầm có khả năng chi phối không nhỏ đến toàn bộ đời sống của cả một cộng đồng.
![]() Du khách sống lại ký ức xưa |
Người Do Thái thế nào thì tạm thời chưa biết, nhưng với tôi, qua vài ngày sống ở Bắc Kinh, trái tim của đất nước Trung Quốc rộng mênh mông, có lẽ ít nhiều tôi cũng cảm nhận được một điều: đây đúng là một dân tộc rất có năng khiếu về thương mại, rất biết cách làm thương mại – tức là rất giỏi trong việc buộc kẻ khác phải vui vẻ móc hầu bao nộp tiền cho các sản phẩm hoặc các dịch vụ của mình.
Tôi đặt chân xuống sân bay Bắc Kinh lúc ba giờ chiều (giờ Trung Quốc). Mất đến hơn hai tiếng đồng hồ sau đó cho việc ngồi xe buýt từ sân bay vào đến trung tâm thành phố, mặc dù quãng đường chỉ là ba mươi cây số. Tắc đường. Tắc đường không phải vì giao thông ở Bắc Kinh lộn xộn, mà vì quá nhiều xe tham gia giao thông. Cả một biển xe hơi (không có một chiếc xe gắn máy nào) từng chiếc từng chiếc nối đuôi nhau bò chậm rãi trên năm, sáu làn đường. Ở độ cao của xe buýt nhìn xuống, có cảm giác chúng giống như một biển những con bọ đủ màu sắc, đủ kiểu dáng (trong đó cực nhiều những con được gắn biểu tượng của Audi, BMW, Mercedes…) đang trật tự nhích từng phân một. Di chuyển như bò ra trên đường thế này, với tôi, kẻ lần đầu tiên trong đời đến Bắc Kinh, cũng có cái hay của nó. Đó là được nhìn ngắm quang cảnh thành phố một cách chậm rãi. Bắc Kinh quả đúng là một đô thị hiện đại, một đô thị có được quy hoạch tổng thể rất hợp lý với những trục giao thông dọc ngang, hệ thống cầu vượt, những khu nhà cao tầng được thiết kế đẹp mắt. Và đặc biệt là ở đâu cũng xuất hiện những khoảng không gian mở, như quảng trường, công viên, vườn hoa, rừng thưa… với rất nhiều cây và hoa. (Ở hai thành phố khác mà tôi đến sau đó, Đại Liên và Tế Nam, cũng đều như vậy cả. Có lẽ đây là điều mà chúng ta cần phải học tập: các thành phố của chúng ta có quá ít không gian mở. Hình như khi xây dựng những khu đô thị mới, các nhà quản lý và nhà đầu tư của chúng ta nghĩ rằng con người sống ở đó không cần phải có không gian để thở?)
Người nước ngoài đến Bắc Kinh với mục đích đi chơi, hẳn không ai không một lần rảo bước trên đường Vương Phủ Tỉnh. Tôi cũng vậy, tám giờ sáng hôm sau đã tìm ra đây. Vương Phủ Tỉnh đúng nghĩa là đường phố đi bộ và mua sắm. Hai bên đường san sát những khách sạn và những trung tâm thương mại sang trọng. Không có một nhãn mác hàng hiệu nổi tiếng toàn cầu nào thiếu mặt ở đây: Hermes, Gucci, Coco Chanel, Louis Vuiton, Armani, Furla, Bally v.v… và v.v… Toàn hàng nhập khẩu chính hãng, với những cái giá mà một anh du khách xoàng khi nhìn vào bất cứ món đồ nào - dù là chiếc khăn, đôi giày hay cái áo khoác - cũng đều thấy tim mình giật lên thon thót. Nhưng rồi lại trộm nghĩ: chẳng có gì lạ. Thứ nhất, phương Tây, với những sản phẩm của nó làm đại diện, đã len lỏi đến từng ngõ ngách của thế giới từ hàng trăm năm nay rồi. Thứ hai, Trung Quốc, cũng như Việt Nam thôi, các quốc gia đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển thì nào có thiếu những người giàu lên một cách bất ngờ. (Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân từng… cay cú nói là “giàu một cách xấc xược”). Họ cần phải có chỗ, có cái mà tiêu cho bớt đi túi tiền của mình, để truy lĩnh khoảng thời gian mới đây thôi còn vất vả nghèo khó, để khẳng định “đẳng cấp” của mình trong mắt người khác... Thôi thì có cả trăm lý do để giải thích cho căn bệnh sính hàng hiệu đang lan tràn trong nền văn minh tiêu thụ như hiện nay. Chẳng có gì lạ. Cái lạ đối với tôi khi đi trên đường Vương Phủ Tỉnh, trước hết, là bức tượng bán thân bằng đồng rất to đặt trước một trung tâm thương mại cũng rất to. Một danh nhân văn hóa của Bắc Kinh chăng, có lẽ vậy? Đến gần, tận mắt đọc mấy chữ khắc trên tượng mới biết mình nhầm: ông này tên là Tra Tuyết, “nhân viên bán hàng ưu tú”, mấy chữ viết thế. Một nhân viên, dù có bán hàng giỏi bằng trời đi nữa, thì cũng chỉ là một nhân viên, một thường nhân, chứ đâu có phải một “đỉnh đỉnh đại danh” gì mà phải tôn vinh bằng cách dựng tượng như vậy? Nhưng đó là sự thật, và có lẽ chỉ riêng chi tiết này thôi đã cho thấy người Trung Quốc là dân tộc yêu công việc kinh doanh thương mại đến thế nào rồi.
Đang tần ngần trước bức tượng ông Tra Tuyết thì chợt nghe thấy tiếng nhạc rộn ràng, nhìn ra: toàn bộ nhân viên của một cửa hàng kế bên, đồng phục hết sức đẹp đẽ chỉnh tề, đang xếp hàng ngay ngắn, tập thể dục theo sự hướng dẫn của người quản lý. Xong bài thể dục buổi sáng, tất cả đứng rất nghiêm trước người quản lý như một đội quân đứng trước vị nguyên soái của mình. Nguyên soái hô: mọi người hôm nay sẽ như thế nào? Đồng thanh đáp: chăm chỉ và vui vẻ làm việc. Nguyên soái hô tiếp: mục đích của mọi người là gì? Đồng thanh đáp: kiếm được nhiều tiền. Xong, tất cả chạy vào cửa hàng, ai làm việc nấy. Lại là kinh doanh, lại là “kiếm được nhiều tiền”, rất công khai và đầy niềm tự hào. Liệu có thể ứng xử được như thế chăng, nếu không phải là một dân tộc thấm đến đáy bốn chữ “phi thương bất phú”?
Đi bộ một hồi đã, mỏi chân và đói bụng, định tìm nhà hàng vịt quay Bắc Kinh nức danh ở Vương Phủ Tỉnh thưởng thức xem sao. Chưa đến mười một giờ, nhà hàng chưa phục vụ. Nhìn sang phía đối diện thấy có một nhà hàng khác, đang nườm nượp khách ra vào. Nhà hàng này mang một cái tên kỳ cục: “Cẩu bất lý”. Nghĩa là: Chó cũng không thèm để ý đến! Không thể hiểu nổi? Ở Việt Nam, để gây sự chú ý cho thực khách, người ta có thể lấy tên cùng biệt danh của chủ hàng để đặt cho quán (kiểu: Hải xồm, Dũng béo, Tuấn cụt v.v…) thế thôi, đằng này lại “Chó cũng không thèm để ý đến”! Về sau, khi nghe tôi kể lại chi tiết này, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Điệp bình luận: Người Trung Quốc rất giỏi sử dụng yếu tố “kỳ”. Cứ đọc những “Tam quốc”, “Thủy hử” hay “Tây du ký” thì sẽ thấy ngay. Đặt tên cho nhà hàng của mình theo cách chẳng coi nó ra cái quái gì, chính là dùng đến yếu tố “kỳ” vậy. Ngẫm cũng có lý. Chó không thèm để ý thì người để ý. Bằng chứng là người ở đâu cứ liên tục đổ xô đến, bàn nào cũng chật cứng thực khách, toán này ra toán khác vào, rào rào như tằm ăn rỗi.
Buổi chiều, tôi đi thăm “Thập tam lăng” ở ngoại ô Bắc Kinh, khu di tích văn hóa được nhà nước Trung Quốc xếp hạng 5A, nghĩa là di tích quan trọng, cần được bảo vệ cẩn thận nhất. Khoan hẵng nói đến cảnh quan thâm nghiêm đẹp đẽ ở nơi này, một lần nữa, tôi lại “được” giật mình trước cái giỏi trong việc làm kinh doanh của người Trung Quốc. Có một chuyện: sau khi đã đi một vòng khu lăng mộ của mười ba đời Hoàng đế triều Minh, người nữ hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến một nơi mà theo chị ta thì ai vào đây rồi từ đây ra sẽ mang theo cái Phúc về nhà. Phải hết sức thành kính, chị ta dặn thế. Đứng trước cửa, chị ta phát cho mỗi người một chiếc thẻ gỗ màu đỏ, trên viết chữ “Phúc” màu đen. Đàn ông cầm tay trái, đàn bà cầm tay phải, xếp hàng một đi vào. Vào trong, thấy có một chiếc bàn dài với ba, bốn nhân viên khu di tích đang chờ sẵn. Làm gì với chiếc thẻ đây? Họ giải thích: ai muốn cầu phúc cho riêng mình thì viết tên mình lên chiếc thẻ, ai muốn cầu phúc cho cả nhà thì viết thêm chữ “toàn gia”. Xong, treo chiếc thẻ ấy vào hàng rào chắn trước bàn thờ phía sau, rồi hãy ra về với niềm tin chắc chắn rằng chiếc thẻ đã được trấn yểm và cái “Phúc” đã ở trong mình. Nhưng có giá cả đấy, chẳng có bữa trưa nào miễn phí cả: cầu phúc cho cá nhân là 90 tệ (gần 300.000 đồng VN), cầu phúc cho toàn gia là 220 tệ (khoảng 700.000 đồng). Nào, anh chọn đi. Không ai bắt buộc anh phải bỏ tiền ra. Nhưng trong bầu không khí linh thiêng ấy, với tâm lý – có lẽ ai cũng như ai thôi – mong muốn cái phúc sẽ tràn đầy trong cuộc sống của mình và của gia đình mình, chắc chắn sẽ rất ít người chơi bài… đánh trống lảng. Tôi đã bỏ tiền, và hình như tất cả những người đi cùng đoàn cũng làm thế. (Về nước, tôi hỏi một đồng nghiệp, vốn là người Công giáo: Nếu là chị, chị có làm thế không? Sau một hồi ngần ngừ, câu trả lời là một cái gật đầu). Chiếc thẻ thì để lại đó, nhưng những ai cầu phúc cho toàn gia (nghĩa là “dám” mất 220 đồng nữa) thì được tặng một bức thư pháp chữ “Phúc”, viết theo đúng kiểu chữ của Hoàng đế Khang Hy nhà Thanh, bên dưới có đóng dấu triện đàng hoàng. Chữ “Phúc” của Hoàng đế nhà Thanh lại được “bán” ở khu lăng mộ của các Hoàng đế nhà Minh, thế mới thật là… oái oăm làm sao!
Tối hôm đó, trở lại Bắc Kinh, tôi đi ăn tại một ngõ nhỏ gần Vương Phủ Tỉnh. Vào đến những khu dân sinh bình dân như thế này mới thấy Trung Quốc… chẳng khác gì Việt Nam (có lẽ vì đều là dân da vàng mũi tẹt?) Quán nhậu san sát, tửu đồ ngồi đầy trong nhà, ngồi tràn ra cả vỉa hè, ăn uống cười nói trò chuyện oang oang. Rượu trắng và bia Yến Kinh là đồ uống phổ biến ở đây. Uống vào, thấy nóng trong người là các bác lột phăng áo ra, trần trùng trục, vô cùng hào sảng, cứ như Lý Quỳ hay Võ Tòng trong truyện “Thủy hử” vậy. Thích thì ghếch chân lên ghế, gãi rồn rột cho thỏa cơn ngứa. Chợt nhớ tới nhà văn Trung Quốc đương đại Giả Bình Ao với cái tản văn “Ngõ Ngũ vị” mà ông đã miêu tả rất sinh động về một ngõ hẻm ở thủ đô Bắc Kinh, tôi liền đánh bạo hỏi thử mấy người xem họ có biết không? Chẳng ai biết cả. Và thậm chí chẳng ai biết Giả Bình Ao là cái ông nào nữa? Hoang mang, hay ngõ Ngũ vị chỉ là sản phẩm hư cấu của ông nhà văn giỏi tưởng tượng thôi nhỉ?


