Khi diện tích sầu riêng đã gấp đôi quy hoạch
Diện tích sầu riêng cả nước năm 2026 ước đạt 200.000 ha, gấp đôi quy hoạch ngành hàng trước đây, đưa sản lượng lên hơn 2 triệu tấn. Quy mô tăng nhanh mở thêm dư địa xuất khẩu, nhưng cũng đặt ra yêu cầu tổ chức lại vùng trồng, kiểm soát chất lượng, phát triển chế biến và đa dạng thị trường để ngành hàng này tăng trưởng bền vững.
1,3 triệu tấn sầu riêng chờ thu hoạch
Sầu riêng đang là một trong những ngành hàng nông sản tăng trưởng nhanh nhất những năm gần đây. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026, diện tích cả nước ước đạt khoảng 200.000 ha, trong đó 129.500 ha cho sản phẩm, sản lượng dự kiến 2,08 triệu tấn. So với quy hoạch ngành hàng trước đây khoảng 100.000 ha, diện tích hiện đã tăng gấp đôi.
Diện tích tăng nhanh tạo nguồn hàng lớn cho xuất khẩu, nhưng cũng đặt ra bài toán về khả năng hấp thụ của thị trường, nhất là khi sản lượng tập trung trong thời gian ngắn.

Theo Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, 7 tháng đầu năm, cả nước đã thu hoạch khoảng 768.000 tấn. Trong 5 tháng còn lại, khoảng 1,3 triệu tấn sẽ tiếp tục vào vụ, phần lớn tập trung từ tháng 8 đến tháng 10. Riêng Đắk Lắk dự kiến thu hoạch khoảng 500.000 tấn, Lâm Đồng 300.000 tấn.
Lượng hàng lớn cùng vào vụ tạo áp lực lên các khâu thu hoạch, kiểm nghiệm, sơ chế, bảo quản, vận chuyển và thông quan.
Trong khi nguồn cung tăng mạnh, xuất khẩu tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực. Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 493.000 tấn sầu riêng, trị giá khoảng 950,7 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự báo kim ngạch xuất khẩu cả năm có thể vượt 4 tỷ USD.
Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng là mức độ tập trung thị trường lớn. Tại Diễn đàn kết nối sản xuất, tiêu thụ sầu riêng ở Đắk Lắk ngày 16/8, ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho biết hơn 90% kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Việt Nam hiện tập trung vào Trung Quốc.
Riêng tại Đắk Lắk, khoảng 70% sản lượng sầu riêng phụ thuộc vào thị trường này, theo bà Đặng Thị Thủy, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh.
Trung Quốc vẫn là thị trường trọng điểm, song mức độ phụ thuộc cao cũng khiến ngành hàng dễ chịu tác động khi chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc nhu cầu thay đổi. Rủi ro càng đáng lưu ý khi sản lượng sầu riêng đã vượt 2 triệu tấn và diện tích tăng nhanh. Đa dạng hóa thị trường vì thế trở thành một trong những yêu cầu quan trọng.
Không mở rộng vùng trồng bằng mọi giá
Trước áp lực nguồn cung tăng nhanh và mức độ phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc, các giải pháp trước mắt tập trung vào tháo gỡ đầu ra, tạo thuận lợi cho xuất khẩu và mở thêm thị trường.
Tại Thông báo số 421/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng, Phó Thủ tướng yêu cầu tiếp tục đàm phán mở rộng thị trường, tăng thị phần tại những thị trường tiềm năng; đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại và thông tin, dự báo thị trường để định hướng sản xuất.
Trong đó, sầu riêng đông lạnh được định hướng mở rộng xuất khẩu sang Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc, Australia; tăng xúc tiến thương mại tại Anh, Pháp, Hà Lan, UAE. Việc đa dạng sản phẩm, đặc biệt tăng tỷ trọng chế biến, cũng giúp giảm áp lực tiêu thụ quả tươi khi sản lượng tập trung vào cao điểm thu hoạch.
Với Trung Quốc, thị trường đang chiếm hơn 90% kim ngạch xuất khẩu sầu riêng, yêu cầu trước mắt là tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm và thông quan. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao làm việc với Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) để đẩy nhanh công nhận mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và phòng kiểm nghiệm; thống nhất quy trình kiểm tra, tạo thuận lợi cho thông quan sầu riêng Việt Nam.
Tuy nhiên, mở rộng thị trường chỉ giải quyết một phần bài toán. Khi diện tích đã lên khoảng 200.000 ha, gấp đôi quy hoạch trước đây, giải pháp căn cơ là kiểm soát quy mô vùng trồng và tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương rà soát, quản lý chặt chẽ diện tích sầu riêng, không mở rộng diện tích, tập trung nâng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Vùng nguyên liệu phải được tổ chức lại trên cơ sở điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu, hạ tầng và khả năng liên kết thị trường; hạn chế phát triển tự phát tại những khu vực không phù hợp.
Thay vì mở rộng diện tích, sản xuất sầu riêng được định hướng theo vùng hàng hóa tập trung, gắn từ sản xuất đến sơ chế, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Doanh nghiệp xuất khẩu được khuyến khích đầu tư trở lại vùng nguyên liệu, hỗ trợ kỹ thuật, thiết lập quy trình truy xuất nguồn gốc và cùng người trồng đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu.
Kiểm soát chất lượng từ vùng trồng cũng trở thành yêu cầu bắt buộc khi các thị trường ngày càng siết tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Người trồng phải thực hiện quy trình canh tác an toàn, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định. Với vùng trồng bị cảnh báo nhiễm Cadimi, yêu cầu là khoanh vùng, xử lý và kiên quyết không cấp phép xuất khẩu sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực bị cảnh báo.
Một mắt xích khác là năng lực bảo quản và chế biến. Chính phủ yêu cầu khuyến khích đầu tư cơ sở sơ chế, bảo quản, chế biến tại các vùng sản xuất tập trung, nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến. Các địa phương đồng thời phải đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến, bảo quản và logistics, tổ chức sản xuất gắn với liên kết chuỗi và nhu cầu thị trường.
Cùng với đó, thương hiệu quốc gia cho sầu riêng Việt Nam sẽ được xây dựng trên cơ sở chỉ dẫn địa lý, đặc trưng chất lượng và lợi thế mùa vụ. Đây là hướng đi nhằm nâng giá trị ngành hàng thay vì tiếp tục dựa chủ yếu vào tăng diện tích và sản lượng.
Với quy mô 200.000 ha và sản lượng hơn 2 triệu tấn, bài toán của ngành sầu riêng đã chuyển từ mở rộng diện tích sang quản trị tăng trưởng. Mở thêm thị trường có thể giải tỏa áp lực đầu ra trước mắt, nhưng về dài hạn, khả năng duy trì giá trị của ngành hàng phụ thuộc vào chất lượng vùng trồng, liên kết chuỗi, năng lực chế biến và khả năng tổ chức sản xuất theo tín hiệu thị trường.

