Doanh nghiệp

Hưởng ứng bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV của Tổng Bí thư Tô LâmDoanh nghiệp nhỏ và vừa trước yêu cầu tăng trưởng thực chất

Vũ Quang 29/03/2026 07:17

Theo GS.TS MẠC QUỐC ANH, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, khu vực này đã sẵn sàng về nhận thức và khát vọng tăng trưởng thực chất song năng lực còn chưa đồng đều. Để doanh nghiệp nhỏ và vừa có “đủ sức đổi mới”, cần rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực thi; tạo môi trường chính sách ổn định để họ yên tâm đầu tư dài hạn.

Sẵn sàng về nhận thức nhưng năng lực chưa đồng đều

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẵn sàng đến đâu để thực hiện yêu cầu "mỗi phần trăm tăng trưởng GDP phải chứa đựng hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn" mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, thưa ông?

- Theo tôi, cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa đã sẵn sàng về nhận thức và khát vọng phát triển, nhưng năng lực thực thi chưa thực sự đồng đều.

5.jpg
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội Mạc Quốc Anh. Ảnh: Quang Khánh

Kinh tế tư nhân hiện có hơn 940.000 doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% thu ngân sách và sử dụng khoảng 82% lực lượng lao động. Bản thân doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% số doanh nghiệp đang hoạt động. Điều đó cho thấy đây là lực lượng đông đảo nhất, linh hoạt nhất và có khả năng lan tỏa mạnh nhất trong nền kinh tế. Nhưng mặt khác, trên 90% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, công nghệ còn lạc hậu, trình độ quản trị chưa cao và tính chuyên nghiệp còn hạn chế.

Vì vậy, tôi cho rằng một bộ phận doanh nghiệp dẫn đầu đã sẵn sàng, họ đã bắt đầu số hóa quản trị, đầu tư công nghệ, nâng chuẩn chất lượng và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Một bộ phận khá lớn đang ở trạng thái sẵn sàng về ý chí nhưng thiếu nguồn lực: muốn đổi mới nhưng thiếu vốn, thiếu nhân lực, thiếu thị trường đủ ổn định để mạnh dạn đầu tư dài hạn. Và vẫn còn một bộ phận chưa thực sự sẵn sàng, nhất là các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp gia đình, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào gia công đơn giản hoặc kinh doanh theo kinh nghiệm.

Tôi cho rằng điểm tích cực lớn nhất hiện nay là tư duy phát triển đã thay đổi. Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã đặt kinh tế tư nhân, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, vào vị trí một động lực quan trọng của tăng trưởng; đồng thời mở ra các cơ chế về đất đai, thuế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nhân lực. Nghị định số 20/2026/NĐ-CP cũng đã có hiệu lực để hướng dẫn một phần các cơ chế đặc biệt này. Như vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được đặt trong một kiến trúc chính sách khá rõ ràng để bứt lên.

- Theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất đang cản trở doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh?

- Theo quan sát của tôi, rào cản lớn nhất hiện nay là thiếu đồng thời 3 năng lực nền tảng: tài chính, quản trị và hấp thụ công nghệ. Nhiều người nghĩ chuyển đổi số chỉ là mua phần mềm hay lắp thêm thiết bị, nhưng thực chất đó là quá trình tái cấu trúc mô hình kinh doanh, quy trình vận hành, dữ liệu, nhân sự và phương thức ra quyết định. Nếu doanh nghiệp chỉ mua công nghệ mà không thay đổi cách quản trị, thì rất dễ rơi vào tình trạng đầu tư tốn kém nhưng hiệu quả thấp.

Tiếp đến là khó tiếp cận vốn và chi phí vốn. Khi vốn khó, doanh nghiệp sẽ ưu tiên duy trì dòng tiền, trả lương, xoay vòng hàng tồn kho trước; đầu tư công nghệ vì thế thường bị lùi lại, dù ai cũng hiểu đó là việc phải làm.

Rào cản thứ ba là chất lượng nhân lực và năng lực quản trị trung gian. Thực tế ở cho thấy nhiều chủ doanh nghiệp rất quyết tâm, nhưng lớp quản lý cấp trung và đội ngũ triển khai không theo kịp.

Rào cản thứ tư là thiếu một môi trường thị trường đủ ổn định để doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp sẽ không mạnh dạn đầu tư vào hệ thống quản trị nguồn lực (ERP), trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa, truy xuất nguồn gốc hay các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG)... nếu đầu ra bấp bênh, hợp đồng ngắn hạn, cạnh tranh chủ yếu bằng giá rẻ.

Điều tích cực là khung chính sách đang dịch chuyển nhanh. Nghị định 20 đã dành riêng một chương cho hỗ trợ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nhân lực. Chính phủ cũng yêu cầu sớm ban hành hướng dẫn chi tiết về hỗ trợ lãi suất, công nghệ, chuyển đổi số và đào tạo giám đốc điều hành. Nhưng nếu không rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và khâu thực thi, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ vẫn rất khó chuyển từ “biết cần đổi mới” sang “đủ sức đổi mới”.

Ổn định chính sách để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn

-Theo ông doanh nghiệp kỳ vọng điều gì từ sự ổn định và nhất quán của chính sách để có thể yên tâm đầu tư dài hạn?

- Ở góc độ thực tiễn, doanh nghiệp nhỏ và vừa có 4 kỳ vọng. Thứ nhất, ổn định về chính sách thuế, đất đai, đầu tư, tín dụng và điều kiện kinh doanh trong khoảng thời gian đủ dài để họ tính toán hiệu quả dự án. Thứ hai, nhất quán trong thực thi, tức là cùng một quy định nhưng không thể mỗi nơi hiểu một kiểu. Thứ ba, giảm thanh tra, kiểm tra chồng chéo, chuyển mạnh sang hậu kiểm và quản lý dựa trên dữ liệu. Thứ tư, bảo đảm an toàn pháp lý cho hoạt động kinh doanh chân chính.

Một kỳ vọng lớn khác là Nhà nước giữ vững nguyên tắc không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự một cách tùy tiện, không hồi tố pháp luật theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp như tinh thần Nghị quyết 68. Doanh nghiệp cần được bảo đảm rằng nếu làm đúng, làm minh bạch, làm có trách nhiệm thì sẽ được bảo vệ bằng một hệ thống chính sách ổn định, nhất quán và thượng tôn pháp luật.

- Ông có kiến nghị gì để doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ tham gia phát triển kinh tế mà còn được hưởng lợi công bằng từ thành quả tăng trưởng?

- Từ góc nhìn của Hiệp hội, tôi cho rằng phải thiết kế chính sách theo nguyên tắc: bình đẳng về cơ hội, có trọng tâm trong hỗ trợ và công bằng trong phân bổ nguồn lực phát triển. Nghị quyết 68 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, đóng góp khoảng 55 - 58% GDP, 35 - 40% tổng thu ngân sách, tạo việc làm cho 84 - 85% lực lượng lao động. Muốn đạt được, không thể chỉ trông chờ vào một nhóm doanh nghiệp lớn; phải tạo điều kiện để hàng triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa đi lên bằng con đường chính thức, hiện đại và có năng suất cao hơn.

Kiến nghị thứ nhất là bảo đảm quyền tiếp cận công bằng các nguồn lực phát triển, nhất là đất đai, vốn, công nghệ và thị trường. Nghị quyết 198 đã có những công cụ rất cụ thể: bố trí bình quân 20ha hoặc 5% quỹ đất đã đầu tư hạ tầng tại các khu, cụm công nghiệp cho một số doanh nghiệp thuê, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu; hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho các dự án xanh, tuần hoàn, ESG; miễn thuế thu nhập cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 3 năm đầu... Tôi cho rằng cần đẩy nhanh thực thi các cơ chế này, công khai danh mục quỹ đất, tiêu chí tiếp cận và tiến độ giải ngân hỗ trợ.

Bên cạnh đó, cần mở rộng cơ hội thị trường một cách thực chất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị quyết 198 quy định gói thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa và gói thầu hỗn hợp sử dụng ngân sách có giá không quá 20 tỷ đồng được dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân vào các dự án quan trọng quốc gia. Đây là hướng đi rất đúng nhưng cần có cơ chế giám sát thực hiện.

Đồng thời, đầu tư mạnh cho năng lực nội sinh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi hưởng lợi công bằng không chỉ là được nhận ưu đãi, mà còn là có đủ sức cạnh tranh để giữ được cơ hội. Nghị quyết 198 cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế để lập Quỹ phát triển khoa học, công nghệ; cho phép tính 200% chi phí R&D vào chi phí được trừ... Nếu các cơ chế này được thực hiện tốt, doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ sống được mà còn có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Đó cũng là cách phân phối thành quả tăng trưởng bền vững và công bằng nhất.

- Xin cảm ơn ông!

    Nổi bật
        Mới nhất
        Hưởng ứng bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm Doanh nghiệp nhỏ và vừa trước yêu cầu tăng trưởng thực chất
        • Mặc định