Hư cấu phải đạt đến sự chân thực
Viết về một nhân vật lịch sử đã khó, viết về một triều đại càng khó hơn. Vậy nhưng, suốt 35 năm qua, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã viết hai bộ trường thiên tiểu thuyết đồ sộ về hai thời đại Lý – Trần kéo dài suốt 400 năm. Bộ tiểu thuyết Tám triều vua Lý, dài trên dưới 3.000 trang, vừa được ông hoàn thành, dự kiến ra mắt năm 2010 này, nhân Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Vừa đi liền một mạch chặng đường 35 năm, nhưng nhà văn Hoàng Quốc Hải chưa chịu nghỉ để tận hưởng cảm giác thành công. Ông vẫn làm việc 7-10 tiếng mỗi ngày. Cũng như nhiều bạn đọc, từ lâu tôi tự hỏi: ông lấy đâu ra tư liệu để viết nên những bộ trường thiên tiểu thuyết đồ sộ này?
Thâm nhập vào mạch nguồn xã hội của nhân vật
- Tư liệu đối với một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử thì có từ nhiều nguồn lắm. Nhưng chủ yếu là phải đọc và đi. Tuy nhiên, đối với nhà tiểu thuyết thì những ghi chép của chính sử chỉ thuần túy là tư liệu mà thôi. Kể cả những nhân vật đã được định hình trong chính sử cũng chỉ là một phương diện của tư liệu. Nhân vật của tiểu thuyết phải sống động trong một xã hội cụ thể, có hoàn cảnh xã hội và bối cảnh chính trị của nó. Nhà văn phải thâm nhập được vào mạch nguồn xã hội của nhân vật thời họ sống. Khi ta viết về một gương sáng, hoặc một kẻ tham nhũng của thời đại hiện nay thì tất cả hiện thực của xã hội này là chất liệu của tiểu thuyết hiện đại.
| “Đối với nhà tiểu thuyết, những ghi chép của chính sử chỉ thuần túy là tư liệu. Nhân vật của tiểu thuyết phải sống động trong một xã hội cụ thể, có hoàn cảnh xã hội và bối cảnh chính trị của nó. Nhà văn phải thâm nhập được vào mạch nguồn xã hội của nhân vật thời họ sống”. |
Cũng như vậy, viết về một nhân vật của quá khứ thì chúng ta phải hình dung được chúng ta đang sống với họ, thâm nhập vào đời sống của họ, “hít thở” chung bầu không khí thời đại với họ. Nghĩa là, nhà văn phải tham gia vào tất cả các hoạt động xã hội của nhân vật. Còn nếu chỉ khai thác trơ trụi một vài sự kiện thì nhà văn sẽ chỉ đưa ra một nhân vật như hình nộm. Nhà tiểu thuyết phải như chứng nhân của thời đại. Tức là phải tái dựng được một xã hội cổ xưa như nó có và từ đấy nhà văn thâm nhập vào các đối tượng cần miêu tả. Như vậy, tư liệu lịch sử rất cần thiết, nhưng bản thân nó chỉ là những thông tin rời rạc, điều quan trọng phải xử lý các thông tin đó như thế nào cho hiệu quả nhất.
Vâng, nhưng nhà văn thu thập tài liệu bằng cách nào để có được khối kiến thức khổng lồ ấy, trong khi chính sử của chúng ta để lại rất ít và không toàn diện trên các mặt đời sống xã hội xưa?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải chưa vội trả lời mà chuyên nước vào hai chén nhỏ. Sau khi cùng nâng chén thưởng thức hương chè thơm cùng mùi trầm phảng phất, ông ôn tồn:
- Ngoài Đại Việt sử ký toàn thư, chúng ta còn có những bộ sử khác để tham chiếu. Thời Lý, Phật giáo giữ ngôi vị quốc giáo nhưng chính sử lại ghi chép rất sơ sài về các thiền sư. Mà các thiền sư lại là các bậc đại trí thức có vai trò rất lớn trong việc định hướng và định hình cho thời đại. Phải nói từ khi du nhập vào Việt Nam tới nay Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc. Nếu không có Thiền uyển tập anh – pho sử do giới Phật giáo ghi lại, thì khó có thể dựng lại những gương mặt thiền sư tiêu biểu như Vạn Hạnh, Đa Bảo, Cứu Chỉ, Đinh Hương, Viên Chiếu... Nhiều thiền sư có mối liên hệ chặt chẽ với triều đình. Ví như thiền sư Lâm Huệ Sinh, làm Quốc sư từ đời vua Lý Thái Tông sang thời vua Lý Thánh Tông. Vua Lý Thái Tông ba lần cho người lên triệu. Sư từ chối bằng cách gọi sứ đến bảo: “Ông không thấy con vật cúng sinh sao? Người ta mặc cho nó lụa là, đem cỏ tươi cho nó ăn. Đến khi dắt vào thái miếu, muốn xin làm một con vật hèn mọn, thì vĩnh viễn cũng không thể được, huống nữa là các vật khác ư?” Sư cố từ không được sau phải về kinh. Vua Thái Tông tôn ngài làm quốc sư và mời trụ trì tại chùa Vạn Tuế. Khi Lý Thái Tông mất, vua Lý Thánh Tông cố lưu thiền sư lại. Nhưng khi vua Lý Thánh Tông mất, triều chính lộn xộn, thiền sư kiên quyết dứt bỏ về sơn tự.
Đặc biệt, có một nguồn nữa rất quan trọng là đối chiếu với sử Trung Hoa. Ví dụ thời nhà Lý tương ứng với thời nhà Tống. Nhưng không phải tất cả chính sử của Tống ghi chép về nước ta đều chính xác. Nếu không muốn nói là họ xuyên tạc trên nhiều bình diện. Ví dụ trong chiến tranh xâm lược của người Tống năm 1076-1077, quân Tống thua phải rút về nước thì họ lại viết: Giao Chỉ xin hàng nên rút quân về.
Chúng ta cũng phải biết ơn người Pháp đã lập ra Viễn Đông Bác cổ Học viện. Họ đã mua hoặc chép lại văn bia, sách truyện trong dân gian, kể cả các vật khai quật lên họ cũng ghi chép có lai lịch cụ thể và được bảo quản khá tốt. Ngay cả đám quan cai trị cũng có ý thức bảo vệ văn hóa của người bản địa.
Hư cấu phải đạt đến sự chân thực
Xin phép được ngắt lời nhà văn. Nhiều người thắc mắc: Làm sao nhà văn có thể “bịa” ra được nhân vật không có trong chính sử nhưng lại rất hấp dẫn?
| “Ở những nước tiên tiến họ xem xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là việc làm đê tiện và bị khởi kiện thì phải nộp phạt, bồi thường đến khánh kiệt. Còn ở ta mà kiện về sở hữu trí tuệ thì như chuyện ngụ ngôn Con kiến mày leo cành đa...” |
- Chính sử thường chỉ chép chuyện các nhà vua và những nhân vật tiêu biểu tham gia trong các sự kiện lịch sử. Thế nhưng tại các dòng họ, những đền thờ rải rác trên khắp đất nước lại cho chúng ta biết rất nhiều về các nhân vật khác. Có thêm những điều đó nhà văn mới hư cấu được mối quan hệ đa dạng của nhân vật chính và làm rõ đặc điểm, bối cảnh xã hội, bộ mặt kinh tế, văn hóa thời đó. Trên cơ sở này nhà văn sáng tác, chứ không phải sáng tác trên sự mù mờ. Đành rằng tiểu thuyết là hư cấu nhưng phải hư cấu làm sao đạt đến sự chân thực.
Có ý kiến cho rằng ông biết xem tướng và lập lá số của nhân vật để viết?
- Đó không phải là cứu cánh mà chỉ là một tham số.
Như trên ông nói, muốn có được tư liệu để viết thì nhà văn phải đọc và đi. Ông đã nói về phần đọc, còn phần đi, ông có những trải nghiệm thế nào?
- Tôi đi điền dã hầu như tất cả các vùng đất mà tôi viết trong truyện, kể cả các cuộc chiến tranh với Champa và Trung Hoa diễn ra trên đất ta và đất của đối phương. Đương nhiên, cả ngàn năm đã trôi qua, đôi chỗ chỉ còn lại phế tích hoặc di ảnh. Tuy nhiên, phải đến tận nơi và dùng cảm quan để vẽ lại quá khứ trên cơ sở các thông tin lịch sử. Cũng qua điền dã mà tôi tìm thấy những thông tin lý thú, cho dù có óc tưởng tượng phong phú đến mấy cũng không thể hình dung ra được. Ví như hệ thống Phật giáo ở Tây Thiên, Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Xưa nay, nhiều học giả vẫn cho rằng: Vùng Luy Lâu (Kinh Bắc) là nơi đầu tiên Phật giáo du nhập vào Việt Nam. Tây Thiên là một vùng ở sâu trong đất liền, lại thâm sơn cùng cốc thì không ai nghĩ ra đó là nơi lần đầu tiên Phật giáo du nhập vào Việt Nam. Tuy nhiên, điều này lại có lý, vì Tây Thiên rất gần với kinh đô Văn Lang thời Hùng Vương. Học giả Lê Quý Đôn thời Lê khi đến đây đã ghi lại trong Kiến văn tiểu lục rằng còn thấy tường chùa Địa ngục và những ngôi tháp. Ông ghi: “Tương truyền rằng có từ thời vua Hùng”. Sau này, khảo cổ học còn khai quật được cả đồ tùy táng. Trước đây trên đỉnh cao nhất còn đền Đồng Cổ. Thời xa xưa ngoài việc thờ thần trống đồng cũng đã thờ Phật trên đó. Vệt phía Đông, Thiền viện bây giờ thì xưa cũng là một ngôi chùa lớn...
Một câu chuyện khác cũng về việc đi điền dã là tôi đã tự trả lời được câu hỏi: Am Ngọa Vân ở đâu trong khi nhiều nhà nghiên cứu (kể cả ở tỉnh Quảng Ninh) cho rằng: Am Ngọa Vân nằm ở phía sau chùa Hoa Yên, Yên Tử. Đọc Thánh Đăng Lục, tôi biết Am Ngọa Vân không ở đó, bởi vì sách ghi: Bảo Sái, đệ tử của Điều ngự Giác Hoàng phải đi hai ngày từ Yên Tử mới tới Am Ngọa Vân. Vậy thì làm sao lại có chuyện một đoạn đường chưa đầy vài ba trăm mét mà phải đi tới 2 ngày? Và tôi đã được dẫn đường tới Am Ngọa Vân. Đường đi phải trèo đèo lội suối khá gian nan. Nhiều đoạn phải đi dưới lòng suối tới cả cây số.
Cũng xin nói cho rõ về việc đọc và đi điền dã tìm thêm tư liệu, tôi cho rằng: điều quan trọng là phải biết xử lý thông tin sao cho thích hợp nhất, nếu không sẽ là ngớ ngẩn, khập khiễng, chắp vá. Kiếm thông tin đã khó nhưng xử lý được còn quan trọng hơn.
Không đam mê đã nản ngay từ đầu
Tôi chợt hỏi: Khi viết có lúc nào ông nản không?
Nhà văn khẽ lắc đầu. Giọng ông bỗng trầm xuống:
- Nếu không đam mê thì đã nản ngay từ đầu. Nản ngay từ khâu tư liệu. Nản từ việc xâm hại bản quyền. Thật ra, tiểu thuyết lịch sử cần được chuyển tải qua các loại hình nghệ thuật khác như sân khấu, điện ảnh để việc phổ cập lịch sử được sâu rộng hơn. Tuy nhiên việc chuyển thể này lại bất tuân luật lệ. Đã không ít đoàn chèo, cải lương, kịch nói dựng nhiều đêm diễn về Huyền Trân công chúa, về Trần Thủ Độ và mới đây về Lý Chiêu Hoàng – Trần Cảnh. Trước khi tôi viết về các nhân vật này thì chưa thấy đoàn nào dựng, thế nhưng khi tiểu thuyết của tôi ra mắt thì họ lại “thuổng”, đem chuyển thể mà không xin phép, không đề rõ nguồn. Nhuận bút họ không trả đã đành còn không thèm biếu lấy một cặp vé. Ở những nước tiên tiến họ xem xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là việc làm đê tiện và bị khởi kiện thì phải nộp phạt, phải bồi thường đến khánh kiệt. Còn ở ta mà kiện về sở hữu trí tuệ thì như chuyện ngụ ngôn “con kiến mày leo cành đa...”.
Nhưng thay vì những sự đáng buồn đó là tác phẩm được đọc giả tiếp nhận. Các tập viết riêng lẻ đã tái bản nhiều lần, có cuốn như Huyền Trân công chúa, Bão táp cung đình in đi in lại tới cả chục lần. Huyền Trân công chúa in lần đầu đến 50.000 bản, lập tức nối bản 20.000 bản, và năm 2003 đôn vào in trọn bộ 4 tập với tựa đề chung Bão táp triều Trần thì liên tiếp tái bản vào các năm 2004-2005-2006 và 2009. Ngay năm 2003, nhà sách Tự Lực ở Mỹ đã in lại trọn bộ, tới nay họ cũng tái bản vài lần. Tôi nghĩ độc giả đến với mình như vậy cũng là niềm an ủi cho người viết...
Giữa khi câu chuyện còn “nóng” thì có tiếng chuông điện thoại reo. Nhà văn Hoàng Quốc Hải với tay lấy ống nghe. Bên kia, một dịch giả từ nước ngoài gọi về muốn trao đổi rõ hơn một đôi chỗ ông chưa hiểu cặn kẽ khi dịch bộ Bão táp triều Trần. Thấy nhà văn bận, trong khi ông đã có phần thấm mệt, chúng tôi đành khép lại cuộc trao đổi.

