Hợp tác 3 bên phát triển nguồn nhân lực văn hóa Việt Nam
Ngày 26/10, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức hội thảo “Hợp tác giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới”.
Hình thành quan hệ hợp tác thực chất
Phát biểu chào mừng hội thảo, PGS. TS. Đinh Công Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội khẳng định: trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo ngày càng sâu rộng, nguồn nhân lực văn hóa đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đối diện những yêu cầu mới.
Đối với Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tăng cường liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu và thực tiễn xã hội là một định hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa.

Nhà trường mong muốn hội thảo không chỉ là diễn đàn trao đổi học thuật, mà còn mở ra các cơ hội hợp tác cụ thể trong xây dựng chương trình đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tri thức, tổ chức thực tập - trải nghiệm nghề nghiệp, phát triển dự án sáng tạo và kết nối mạng lưới chuyên gia trong nước, quốc tế.
Hội thảo hướng tới nhận diện những vấn đề lý luận và thực tiễn của mô hình hợp tác ba bên; trao đổi kinh nghiệm trong nước và quốc tế; đồng thời đề xuất các định hướng, cơ chế và giải pháp có khả năng triển khai. Hội thảo tiếp nhận 187 tham luận, trong đó có 8 bài của học giả quốc tế; 177 bài được lựa chọn đưa vào Kỷ yếu.
Theo PGS.TS. Đinh Công Tuấn, nguồn nhân lực văn hóa mang tính liên ngành và đa dạng, gồm đội ngũ quản lý văn hóa, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản, thư viện - thông tin, nghệ thuật biểu diễn, truyền thông, du lịch văn hóa, tổ chức sự kiện và các ngành nghề sáng tạo.
Bên cạnh tri thức chuyên môn, người lao động cần năng lực số, kỹ năng sáng tạo, tư duy liên ngành, ngoại ngữ, khả năng thích ứng với môi trường nghề nghiệp và ý thức bảo vệ các giá trị văn hóa. Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới đòi hỏi năng lực sử dụng công nghệ có trách nhiệm, tôn trọng bản quyền, tính xác thực của di sản và lợi ích của cộng đồng.
Những yêu cầu ấy vượt ra ngoài khả năng đáp ứng riêng lẻ của bất kỳ chủ thể nào. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường thể chế, hoạch định chính sách, bảo đảm điều kiện phát triển và điều tiết lợi ích công. Nhà trường có trách nhiệm đào tạo, nghiên cứu, phát triển tri thức và bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp. Doanh nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động cung cấp tín hiệu nhu cầu, môi trường thực hành, nguồn lực và cơ hội chuyển hóa tri thức thành giá trị. Hiệu quả hợp tác phụ thuộc vào việc ba chủ thể có chia sẻ mục tiêu, trách nhiệm, nguồn lực và cơ chế đánh giá kết quả hay không.

Vì vậy, PGS. TS. Đinh Công Tuấn cho rằng, liên kết ba bên không nên dừng ở các thỏa thuận mang tính hình thức hoặc những hoạt động thực tập ngắn hạn. Vấn đề cốt lõi là hình thành quan hệ hợp tác thực chất, trong đó, các bên cùng tham gia xác định nhu cầu, thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, sử dụng nhân lực và đánh giá tác động xã hội.
Đối với lĩnh vực văn hóa, hiệu quả ấy cần được nhìn nhận đồng thời trên ba phương diện: chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tạo ra giá trị kinh tế - xã hội và sự gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa.
Rút ngắn khoảng cách lý thuyết và thực hành, nhà trường và thị trường lao động
Hội thảo tập trung thảo luận, làm rõ mô hình và cơ chế phối hợp Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa; đổi mới chương trình, phương thức đào tạo nhân lực văn hóa gắn với thực tiễn nghề nghiệp và thị trường lao động; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nghiên cứu ứng dụng và khởi nghiệp trong lĩnh vực văn hóa...
Báo cáo tham luận tại hội thảo, GS. TS. Đinh Xuân Dũng, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nhận định: gắn kết Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích mà đã trở thành một yêu cầu tất yếu, để nâng cao chất lượng đào tạo, rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, giữa nhà trường và thị trường lao động. Đây cũng chính là xu thế chung mà nhiều nền giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới đã và đang theo đuổi trong nhiều thập kỷ qua.
Tham luận của TS. Lã Trường Anh, Khoa Luật và Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội nhấn mạnh: hiệu quả của thể chế hợp tác không được đo bằng số lượng thỏa thuận đã ký, mà bằng chất lượng nhân lực được đào tạo, mức độ phù hợp với nhu cầu nghề nghiệp và giá trị văn hóa, xã hội được tạo ra...
Khi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giải trình của ba chủ thể được xác định rõ, hợp tác mới có thể chuyển từ những hoạt động riêng lẻ thành cơ chế ổn định, góp phần phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Từ kinh nghiệm các quốc gia, PGS. TS. Lê Thanh Bình, Học viện Ngoại giao khuyến nghị quy định khung chương trình đào tạo trình độ đại học khối ngành công nghiệp văn hóa tích hợp tỷ lệ thời lượng thực hành, dự án thực tế được xác nhận bởi doanh nghiệp đối tác. Cho phép tính đổi giờ giảng tương đương ngạch giảng viên đại học khi mời chuyên gia, nhà sản xuất, đạo diễn, doanh nhân văn hóa tham gia giảng dạy trực tiếp. Tích hợp nội dung chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (công cụ dựng hình, xử lý âm thanh, số hóa di sản) vào chương trình đào tạo cốt lõi...
Trên cơ sở các tham luận, hội thảo kỳ vọng hình thành các nhóm khuyến nghị có tính khả thi: tăng cường cơ chế phối hợp và đặt hàng theo nhu cầu; phát triển chương trình đào tạo đồng thiết kế với đơn vị sử dụng lao động; mở rộng các dự án nghiên cứu, thực hành và đổi mới sáng tạo có sự tham gia của nhiều chủ thể; xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá và chia sẻ kết quả hợp tác. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế cần gắn với điều kiện thể chế, văn hóa và nguồn lực của Việt Nam, tránh sao chép mô hình một cách cơ học...

