Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị:Mở đường cho người dám làm, sàng lọc người không chịu làm
Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới được ban hành trên cơ sở sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung với yêu cầu rộng hơn và cao hơn.
Nếu như trước đây nhấn mạnh khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, lần này Bộ Chính trị đặt vấn đề từ chính phẩm chất và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên: Đã là cán bộ, đảng viên thì phải tiên phong, gương mẫu; phải có tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Việc đặt hai chữ “tiên phong, gương mẫu” ở đầu tên Nghị quyết mang ý nghĩa rất sâu sắc. Tiên phong không chỉ là đi trước trong nhận thức mà phải đi trước trong hành động. Gương mẫu không chỉ là chấp hành tốt, giữ mình không sai phạm, mà còn phải dám nhận việc khó, dám quyết việc thuộc thẩm quyền, dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình và về kết quả công việc được giao. Đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm chính là những biểu hiện cụ thể của tính tiên phong, gương mẫu trong điều kiện mới, trước hết đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu.
Nội dung cụ thể của Nghị quyết 24 gồm 4 quan điểm, 4 mục tiêu, 5 nhóm
nhiệm vụ, giải pháp và phân công rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Xin nhấn mạnh một số vấn đề cần thống nhất về nhận thức và hành động.
Thứ nhất, cần nhận thức đúng vì sao Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết này.
Có 2 lý do chính cho sự ra đời của Nghị quyết:
(1) Kết luận 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung đã khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng, tuy nhiên trên thực tế việc thực hiện kết quả còn hạn chế, cần có quyết tâm chính trị mạnh mẽ hơn, cách làm đồng bộ, quyết liệt hơn.
(2) Đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Đại hội XIV đã đề ra những mục tiêu rất cao, nhiệm vụ rất nặng nề. Muốn thực hiện được thì từ Trung ương đến cơ sở, mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải chuyển động. Thực tiễn cho thấy đội ngũ cán bộ, đảng viên nhìn chung có bản lĩnh, trách nhiệm, tận tụy, nhiều đồng chí dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, vì lợi ích chung.

Nhưng Nghị quyết cũng thẳng thắn chỉ ra tình trạng một bộ phận cán bộ làm việc cầm chừng, e ngại rủi ro, sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm, né tránh công việc; có nơi còn đổ lỗi cho những hạn chế, bất cập của pháp luật để không dám quyết định.
Vì vậy vừa phải khắc phục triệt để tình trạng sợ sai, không dám làm; vừa phải khơi dậy được tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu và khát vọng cống hiến trong mỗi cán bộ, đảng viên; cán bộ phải chủ động hơn, quyết đoán hơn, sáng tạo hơn; phải có khả năng giải quyết những vấn đề mới, khó, phức tạp, chưa có tiền lệ và tạo ra những kết quả thực chất… Đây là những lý do chính cho sự ra đời của Nghị quyết.
Thứ hai, nhận thức đầy đủ những nội dung mới, những bước phát triển nâng tầm của Nghị quyết 24 so với Kết luận 14, tập trung 5 nội dung:
(1) Nghị quyết 24 đã có bước chuyển từ khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm sang xác lập tính tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm hành động là chuẩn mực của cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. Đây là bước phát triển có ý nghĩa nền tảng. Nghị quyết không chỉ đặt câu hỏi cán bộ nào năng động, sáng tạo để khuyến khích và bảo vệ, mà đặt yêu cầu cao hơn: người cán bộ trong kỷ nguyên mới phải hành động như thế nào để đáp ứng yêu cầu của Đảng, đất nước và Nhân dân? Không phải cán bộ nào cũng phải có một sáng kiến lớn, một đề án đột phá. Nhưng cũng không thể chấp nhận sự thụ động, trì trệ, né tránh trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ. Việc thuộc thẩm quyền phải quyết định; việc thuộc trách nhiệm phải xử lý; khó khăn phải chủ động tìm cách tháo gỡ; vượt thẩm quyền phải báo cáo cùng phương án đề xuất. Như vậy, từ chỗ “khuyến khích người dám làm”, Nghị quyết tiến tới yêu cầu “xây dựng một đội ngũ cán bộ có năng lực và trách nhiệm hành động”.
(2) Chuyển từ bảo vệ cán bộ sau khi rủi ro đã xảy ra sang kiến tạo môi trường để cán bộ có thể dấn thân hành động và có trách nhiệm ngay từ đầu. Bảo vệ cán bộ không thể chỉ bắt đầu khi đã xảy ra sai sót, thiệt hại rồi mới xem xét miễn hay giảm trách nhiệm. Trước khi yêu cầu cán bộ chịu trách nhiệm, tổ chức phải giao rõ việc, rõ quyền, bố trí nguồn lực cần thiết, xác định giới hạn thẩm quyền, nhận diện và quản trị rủi ro, theo dõi, hỗ trợ trong quá trình thực hiện. Đây là sự chuyển đổi rất quan trọng: từ “bảo vệ sau sự việc” sang “bảo vệ bằng thể chế, bằng tổ chức và bằng quản trị rủi ro ngay trong quá trình hành động”. Bảo vệ không phải tạo ra một “vùng an toàn” để cán bộ không phải chịu trách nhiệm, mà là tạo ra một không gian hành động rõ ràng, chấp nhận rủi ro, thử nghiệm có kiểm soát để cán bộ dám chịu trách nhiệm.

(3) Từ đặt trọng tâm vào trách nhiệm của cá nhân cán bộ sang xác lập trách nhiệm đồng bộ của cán bộ, tổ chức và người đứng đầu. Một đề xuất đổi mới thường có nhiều chủ thể tham gia: người phát hiện vấn đề, người tham mưu, người thẩm định, người quyết định, người phối hợp và người trực tiếp tổ chức thực hiện. Nếu chỉ yêu cầu cán bộ dám làm nhưng người có thẩm quyền không dám quyết định; chỉ yêu cầu cấp dưới chịu trách nhiệm nhưng cấp trên không giao quyền, không bố trí nguồn lực, không tháo gỡ và không bảo vệ khi cán bộ hành động đúng thì cơ chế sẽ không thể vận hành.
Vì vậy, Nghị quyết đặt trách nhiệm rất rõ đối với cấp ủy và người đứng đầu. Người đứng đầu không chỉ là người xem xét, quyết định chủ trương đổi mới, mà phải chủ động tạo điều kiện, lựa chọn việc khó, giao người có năng lực, giao quyền, đồng hành, quản trị rủi ro và chịu trách nhiệm trong phạm vi thẩm quyền của mình. Đây là chuyển biến từ “cán bộ phải dám làm” sang “tổ chức phải dám giao việc, dám giao quyền và dám bảo vệ người làm đúng”.
(4) Từ khuyến khích, bảo vệ cán bộ như một cơ chế riêng lẻ trở thành một nội dung xuyên suốt trong công tác cán bộ và quản trị quốc gia hiện đại. Nếu khuyến khích cán bộ dám làm nhưng đánh giá, quy hoạch, bố trí, sử dụng vẫn chưa coi trọng năng lực đổi mới, kết quả giải quyết việc khó và hiệu quả thực thi thì khó tạo động lực. Điểm mới của Nghị quyết là gắn trực tiếp tinh thần đổi mới, năng lực hành động và quản trị rủi ro với các khâu của công tác cán bộ; lấy thực tiễn và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm căn cứ quan trọng để đánh giá, sử dụng cán bộ.
Tinh thần rất rõ: chọn người theo việc, giao việc để thử thách, lấy sản phẩm và kết quả để đánh giá, lấy thực tiễn để phát hiện, trọng dụng và sàng lọc cán bộ. Người làm được việc, có sản phẩm, tạo hiệu quả thực chất phải được ghi nhận, tôn vinh và trọng dụng. Người trì trệ, đùn đẩy, né tránh, làm việc cầm chừng hoặc đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích chung phải được nhận diện, sàng lọc và xử lý phù hợp.
(5) Từ giải quyết tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm” sang hình thành một văn hóa hành động, năng lực thực thi mới trong Đảng và hệ thống chính trị. Đích đến của Nghị quyết không chỉ là khắc phục tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm của cán bộ. Yêu cầu cao hơn là hình thành một môi trường trong đó chủ động, đổi mới, dấn thân, trách nhiệm, liêm chính và hiệu quả trở thành chuẩn mực; còn trì trệ, né tránh, đùn đẩy không còn là lựa chọn an toàn. Đây cũng là yêu cầu góp phần xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh; xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân, trọng dân, vì dân, có năng lực giải quyết các vấn đề của thực tiễn; qua đó củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Thứ ba, phải hiểu đầy đủ hai mặt của vấn đề: vừa bảo vệ người dám làm, vừa kiên quyết xử lý người không chịu làm.
Đây là vấn đề các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu đặc biệt lưu ý. Thực tiễn hiện nay có hai tình trạng khác nhau, không được đánh đồng. Có những cán bộ thực sự muốn làm, có sáng kiến, có năng lực, có động cơ trong sáng, nhưng còn băn khoăn, e ngại vì cơ chế chưa rõ, pháp luật còn chồng chéo, vấn đề mới chưa có tiền lệ, rủi ro khó lường. Đối với những cán bộ như vậy, trách nhiệm của tổ chức là phải tháo gỡ, trao quyền, hướng dẫn, chia sẻ rủi ro và bảo vệ họ.
.jpg)
Nhưng cũng có những cán bộ không phải không dám làm mà thực chất là không muốn làm; ngại khó, ngại va chạm, sợ trách nhiệm, làm việc cầm chừng; việc dễ thì làm, việc khó thì né; việc có lợi thì tích cực, việc chung thì chậm trễ; gặp vấn đề thì đẩy lên trên, đẩy xuống dưới hoặc đẩy sang cơ quan khác. Đặc biệt phải cảnh giác với tình trạng lấy “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, “cơ chế còn vướng”, “pháp luật chưa rõ” làm bình phong cho sự trì trệ, thiếu trách nhiệm, thậm chí che giấu động cơ cá nhân.
Tinh thần của Nghị quyết 24 là bảo vệ người dám làm, nhưng cũng đồng thời phải xác định trách nhiệm người không chịu làm. Không hành động cũng có thể gây hậu quả. Một quyết định sai phải chịu trách nhiệm; nhưng không quyết định, để công việc đình trệ, cơ hội phát triển bị bỏ lỡ, nguồn lực bị lãng phí, người dân và doanh nghiệp phải chịu thiệt hại thì cũng phải chịu trách nhiệm.
Phải phân biệt rất rõ: người muốn làm nhưng gặp rào cản thì phải tháo gỡ; người dám làm vì lợi ích chung thì phải bảo vệ; người làm tốt thì phải trọng dụng; nhưng người có trách nhiệm mà không làm, có thẩm quyền mà không quyết, thấy việc khó mà né tránh, đùn đẩy thì phải xem xét trách nhiệm. Lâu nay thường chú ý kiểm tra cán bộ làm sai cái gì. Trong giai đoạn mới, cần quan tâm thêm cả một câu hỏi khác: việc thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của đồng chí, tại sao đồng chí không làm? Phải từng bước hình thành một văn hóa rất rõ trong hệ thống: không làm cũng phải chịu trách nhiệm; làm chậm cũng phải chịu trách nhiệm; làm không đến nơi đến chốn cũng phải được đánh giá đúng mức. Đây chính là một nội hàm rất quan trọng của tính tiên phong, gương mẫu.
Lấy sản phẩm, kết quả và hiệu quả thực thi làm thước đo để trọng dụng, sàng lọc cán bộ
Từ việc thống nhất nhận thức những nội dung quan trọng trong Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị, xin nhấn mạnh 5 yêu cầu lớn trong tổ chức thực hiện Nghị quyết.
Một là, trước hết phải tạo chuyển biến về trách nhiệm hành động, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Người đứng đầu phải thực sự nêu gương, chủ động nhận việc mới, việc khó, việc phức tạp; phải sâu sát cơ sở, đối thoại với cấp dưới, kịp thời tháo gỡ khó khăn, điểm nghẽn. Không thể yêu cầu cấp dưới dám làm nếu người đứng đầu không dám quyết. Không thể yêu cầu cấp dưới chịu trách nhiệm nếu cấp trên chỉ giao việc nhưng khi khó khăn lại đứng ngoài. Cần chuyển mạnh từ tư duy “quản lý để không xảy ra sai sót” sang “quản trị để tạo ra kết quả”; từ chấp hành máy móc sang chủ động giải quyết công việc.
Hai là, phải tạo được môi trường và thể chế để người muốn làm có thể làm. Đây là bước phát triển rất quan trọng của Nghị quyết: từ “bảo vệ sau sự việc” sang “bảo vệ bằng thể chế, bằng tổ chức và bằng quản trị rủi ro ngay trong quá trình hành động”.
_watermarked.jpg)
Trước khi yêu cầu cán bộ chịu trách nhiệm, tổ chức phải giao rõ việc, giao đủ quyền, bảo đảm nguồn lực, xác định giới hạn thẩm quyền, nhận diện rủi ro và hỗ trợ trong quá trình thực hiện. Đối với những vấn đề mới mà pháp luật chưa quy định hoặc thực tiễn đòi hỏi cách làm mới, phải có không gian thử nghiệm có kiểm soát, xác định rõ phạm vi, đối tượng, thời hạn, nguồn lực, giới hạn rủi ro và trách nhiệm giám sát; thực hiện theo chu trình “thử nghiệm - đánh giá - hoàn thiện - nhân rộng - luật hóa”. Không thể lấy khoảng trống pháp luật để hạn chế đổi mới; nhưng cũng tuyệt đối không được lấy đổi mới làm lý do để tùy tiện làm trái pháp luật.
Ba là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhưng phải gắn chặt với quản trị rủi ro, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Không thể yêu cầu cán bộ dám chịu trách nhiệm nếu không giao đủ quyền; nhưng cũng không thể giao quyền mà không kiểm soát. Cần vận hành đồng bộ một chuỗi: Giao việc - giao quyền - bảo đảm nguồn lực - quản trị rủi ro - giám sát thực thi - đánh giá bằng kết quả - bảo vệ người làm đúng. Quản trị rủi ro không phải để cán bộ sợ rủi ro và không làm; mà chính là để cho phép hành động trong điều kiện có rủi ro nhưng rủi ro được nhận diện, theo dõi và kiểm soát.
Bốn là, bảo vệ cán bộ phải thực chất, nhưng ranh giới bảo vệ phải thật rõ. Khi xem xét trách nhiệm, không được chỉ nhìn vào hậu quả cuối cùng mà phải xem xét toàn diện động cơ, mục đích, mức độ lỗi, bối cảnh thực tiễn, quá trình ra quyết định, khả năng dự báo, kiểm soát rủi ro và nỗ lực khắc phục hậu quả. Phải phân biệt rủi ro khách quan, sai sót không cố ý với hành vi cố ý vi phạm; thiếu điều kiện khách quan với thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm; đổi mới vì lợi ích chung với lợi dụng đổi mới để vụ lợi. Bảo vệ đúng người, đúng việc, đúng bản chất chính là điều kiện để vừa tạo động lực đổi mới, vừa giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương.
Năm là, phải đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; lấy sản phẩm, kết quả và hiệu quả thực thi làm thước đo chủ yếu. Đây là khâu quyết định để Nghị quyết đi vào cuộc sống. Phải thực hiện thực chất tinh thần: chọn người theo việc; giao việc để thử thách; lấy kết quả để đánh giá; lấy thực tiễn để phát hiện, trọng dụng và sàng lọc cán bộ. Hằng năm, từng cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải xác định những việc khó, việc mới, điểm nghẽn, nhiệm vụ tồn đọng để giao cán bộ đảm nhận. Không chỉ chờ cán bộ tự đăng ký sáng kiến mà tổ chức phải chủ động dùng việc khó để thử thách cán bộ.
.jpg)
Người dám nhận việc khó và làm được việc phải được ghi nhận, trọng dụng. Ngược lại, người né việc khó, đùn đẩy, trì trệ, thiếu trách nhiệm phải được đánh giá đúng, sàng lọc, bố trí lại hoặc thay thế. Phải khắc phục cho được một nghịch lý: người nhận việc khó, chấp nhận trách nhiệm và rủi ro lại dễ chịu bất lợi hơn người chọn việc an toàn, né tránh trách nhiệm.
Cùng với việc ban hành Nghị quyết 24, Bộ Chính trị đang chỉ đạo tổng kết đánh giá và xây dựng trình Trung ương 3 Nghị quyết quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và về công tác cán bộ. Các Nghị quyết này sẽ tạo thành một tổng thể thống nhất, bổ sung cho nhau, qua đó xác lập đồng bộ các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ và tổ chức thực hiện trong giai đoạn mới. Trong đó, Nghị quyết 24 là một bộ phận trong tổng thể đó, tập trung vào một khâu rất trực tiếp: làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu, có trách nhiệm, có khát vọng cống hiến và dám hành động vì lợi ích chung.
Để cụ thể hóa và triển khai ngay Nghị quyết 24, Ban Bí thư sẽ ban hành Quy định cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Trong đó, quy định cụ thể tiêu chí, trình tự đề xuất, thẩm định, phê duyệt, giám sát thực thi; cơ chế giao quyền, quản trị rủi ro, đánh giá kết quả; các hình thức tôn vinh, trọng dụng và biện pháp bảo vệ cán bộ trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo.
Giá trị của Nghị quyết 24 không nằm ở việc nói nhiều hơn về tinh thần dám nghĩ, dám làm, mà phải được thể hiện bằng sự thay đổi thật trong hành động của cán bộ và sự thay đổi thật trong cách hệ thống sử dụng, đánh giá, bảo vệ và sàng lọc cán bộ. Tinh thần xuyên suốt cần quán triệt là: mở đường cho người muốn làm; trao quyền cho người có năng lực; bảo vệ người dám làm vì lợi ích chung; trọng dụng người làm được việc. Đồng thời kiên quyết thay thế, sàng lọc những người không làm, không dám chịu trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, trì trệ. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, phải thực sự tiên phong trong nhận việc khó, gương mẫu trong hành động, đổi mới trong cách làm và chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả.
Nếu làm được như vậy, Nghị quyết số 24-NQ/TW sẽ không chỉ giải quyết tình trạng sợ sai, sợ trách nhiệm, mà quan trọng hơn, sẽ góp phần khơi dậy khát vọng cống hiến, giải phóng sức sáng tạo và hình thành một đội ngũ cán bộ hành động, kiến tạo, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân.
T. Thành ghi

