Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33:Để ngoại giao tạo ra dòng vốn, công nghệ và "đơn hàng"
Khi những biến động của kinh tế thế giới ngày càng tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, yêu cầu đặt ra với ngoại giao cũng không còn dừng ở việc mở rộng quan hệ đối ngoại. Thông điệp từ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 là đưa ngoại giao đến gần hơn với doanh nghiệp, trở thành cầu nối đưa cơ hội hợp tác, đầu tư và thương mại thành những kết quả thực chất, góp phần tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Trong nhiều năm qua, ngoại giao kinh tế đã góp phần quan trọng mở rộng không gian phát triển cho Việt Nam thông qua việc củng cố quan hệ với các đối tác, thúc đẩy hội nhập, mở rộng thị trường và thu hút nguồn lực quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, vai trò của ngoại giao kinh tế đang đứng trước yêu cầu mới: không chỉ mở cánh cửa hội nhập, mà phải đồng hành để doanh nghiệp Việt Nam bước qua cánh cửa đó với năng lực cạnh tranh cao hơn.
Từ yêu cầu đó, ngoại giao kinh tế đang bước vào giai đoạn mới: giai đoạn lấy hiệu quả phát triển làm thước đo, lấy doanh nghiệp và nền kinh tế làm trung tâm phục vụ.
Doanh nghiệp cần nhiều hơn những cánh cửa thị trường
Việt Nam hiện đã có mạng lưới quan hệ kinh tế rộng khắp với nhiều đối tác, cùng hệ thống các Hiệp định thương mại tự do (FTA) tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế. Dù vậy, mở được thị trường mới chỉ là điều kiện cần. Thách thức lớn hơn là làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam có đủ năng lực cạnh tranh, đủ thông tin và đủ khả năng tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thực tế cho thấy, môi trường kinh doanh quốc tế đang thay đổi nhanh chóng. Những lợi thế truyền thống về chi phí đang dần nhường chỗ cho các yêu cầu mới về công nghệ, tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và khả năng thích ứng với biến động địa chính trị.

Trong bối cảnh đó, thông tin thị trường, khả năng dự báo và tốc độ phản ứng trở thành những nguồn lực cạnh tranh quan trọng. Một thay đổi về chính sách thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật hay xu hướng tiêu dùng có thể mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp nắm bắt sớm, nhưng cũng có thể trở thành rào cản đối với những doanh nghiệp chậm thích ứng.
Đề cập đến điều này, phát biểu tại phiên toàn thể “Ngoại giao phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới” trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hồ Sỹ Hùng cho rằng, ngoại giao kinh tế cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ khi có yêu cầu” sang “chủ động đồng hành và kiến tạo”, và từ “phối hợp theo vụ việc” sang “xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp có tính hệ thống, nhanh chóng và đo lường được hiệu quả”. Theo ông, trong kinh doanh quốc tế, thông tin đúng là quan trọng, nhưng thông tin đúng và đến đúng thời điểm còn quan trọng hơn.
Những đề xuất như xây dựng cơ chế phản hồi nhanh giữa các Cơ quan đại diện ngoại giao - VCCI - Doanh nghiệp, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung hay tăng cường kết nối thường xuyên giữa cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với cộng đồng doanh nghiệp thực chất là yêu cầu xây dựng một phương thức vận hành mới của ngoại giao kinh tế: nhanh hơn, sát hơn và gắn trực tiếp hơn với nhu cầu của thị trường.
Từ xúc tiến thương mại đến xây dựng năng lực cạnh tranh
Nếu VCCI đặt trọng tâm vào yêu cầu đồng hành cùng doanh nghiệp, thì Bộ Công Thương tiếp cận từ góc độ xây dựng năng lực để doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thế giới.
Phát biểu tại phiên thảo luận, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho rằng, khi chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe, yêu cầu đặt ra là chuyển hóa các thành quả của đối ngoại và hội nhập thành năng lực cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp.
Đây cũng là mục tiêu của Chương trình vươn ra thị trường quốc tế (GoGlobal) giai đoạn 2026-2030. Thay vì hỗ trợ dàn trải, chương trình hướng tới hình thành lực lượng doanh nghiệp tiên phong có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu trong những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như công nghệ số, logistics, thương mại điện tử, công nghiệp chế biến chế tạo và các ngành công nghệ cao; tập trung nguồn lực theo nguyên tắc “sâu hơn ở thị trường truyền thống, rộng hơn ở thị trường mới và đa dạng phương thức tiếp cận thị trường”.
Điểm quan trọng của cách tiếp cận này là thay đổi tư duy về hội nhập. Hội nhập không chỉ là đưa sản phẩm ra nước ngoài, mà là giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu và tham gia vào những phân khúc có giá trị cao hơn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao, cùng hệ thống các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, sẽ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả triển khai chương trình.
Mở rộng không gian phát triển
Từ góc nhìn của ngành nông nghiệp, yêu cầu nâng cao chất lượng hội nhập càng thể hiện rõ hơn.
Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia cung ứng nông sản quan trọng của thế giới với nhiều mặt hàng xuất khẩu có vị thế cao như gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, trái cây và thủy sản. Tuy nhiên, cạnh tranh trong giai đoạn mới không còn dựa chủ yếu vào sản lượng hay giá thành, mà dựa vào chất lượng, công nghệ, tiêu chuẩn xanh và khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
-7616a76f5bd970be14a7cc7c116f908b.jpg)
Tại phiên thảo luận, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho rằng, nông nghiệp Việt Nam cần chuyển từ xuất khẩu sản phẩm sang xuất khẩu giá trị; từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Điều này mở ra một cách nhìn rộng hơn về vai trò của ngoại giao kinh tế, đó là phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò tiên phong trong mở rộng không gian phát triển cho nông nghiệp Việt Nam. Không chỉ đưa gạo, cà phê hay trái cây Việt Nam ra thế giới, ngoại giao còn có thể góp phần đưa ra các mô hình phát triển xanh, công nghệ sản xuất, tiêu chuẩn bền vững, giải pháp chuyển đổi số, logistics và các giá trị tri thức gắn với nền nông nghiệp Việt Nam.
Đây sẽ là không gian tăng trưởng mới, tạo giá trị gia tăng cao hơn nhiều so với xuất khẩu hàng hóa đơn thuần, đồng thời góp phần nâng cao vị thế và sức ảnh hưởng của Việt Nam trong chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu.
Xây dựng hệ sinh thái ngoại giao phục vụ phát triển
Từ những yêu cầu thực tiễn đó, ngành ngoại giao và hệ thống Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đang đứng trước yêu cầu và kỳ vọng mới.
Các Đại sứ quán, Cơ quan đại diện và Thương vụ không chỉ là đầu mối triển khai hoạt động đối ngoại, mà cần trở thành trung tâm thông tin chiến lược, dự báo thị trường, cảnh báo sớm rủi ro và kết nối nguồn lực cho phát triển; qua đó, xây dựng hình ảnh Việt Nam không chỉ là một điểm đến đầu tư hấp dẫn mà còn là quốc gia có cộng đồng doanh nghiệp năng động, sáng tạo và có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Muốn vậy, cần một cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa Bộ Ngoại giao, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp. Khi thông tin từ thị trường quốc tế được chuyển hóa thành dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách; nhu cầu của doanh nghiệp được phản hồi nhanh chóng và cơ hội hợp tác được kết nối với đúng đối tác, ngoại giao kinh tế sẽ tạo ra giá trị vượt lên trên hoạt động xúc tiến truyền thống.
Đây cũng là yêu cầu được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: hiệu quả của đối ngoại sẽ không chỉ được đo bằng số lượng hoạt động hay khuôn khổ hợp tác, mà phải thể hiện ở khả năng tạo thêm nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước, người dân và doanh nghiệp.
Đặt ngoại giao vào trung tâm của chiến lược phát triển, gắn chặt hơn với yêu cầu của doanh nghiệp và từng ngành kinh tế là cách để những thành quả đối ngoại được hiện thực hóa bằng các kết quả phát triển cụ thể, thay vì chỉ dừng lại ở các cam kết hay khuôn khổ hợp tác. Đó cũng là con đường để ngoại giao tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, đồng hành với nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

