Hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền
Phát triển kinh tế biển đòi hỏi đổi mới tư duy quản trị, hoàn thiện pháp luật, khai thác hiệu quả nguồn lực gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Trao đổi với Báo Đại biểu Nhân dân trước thềm Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, Thiếu tướng LƯƠNG ĐÌNH HƯNG - Phó Tư lệnh Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam, ĐBQH tỉnh Nghệ An nhấn mạnh yêu cầu phân định rõ trách nhiệm, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên biển.
“Đúng, trúng và có tính thực tiễn cao”
- Thưa đại biểu, trước thềm Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, đại biểu đặc biệt quan tâm đến những vấn đề gì và kỳ vọng ra sao ở các quyết sách của Quốc hội?
- Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI dự kiến xem xét nhiều dự án luật, nghị quyết quan trọng, với khối lượng công việc lớn, liên quan đến nhiều vấn đề trọng yếu của đất nước. Tôi đặc biệt quan tâm đến 3 nhóm nội dung.
Về công tác lập pháp, tôi quan tâm đến các dự án luật liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý, sử dụng nguồn lực công, nhất là trong các lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, xử lý vi phạm hành chính, đất đai, đấu thầu, ngân sách nhà nước, nhà ở, tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, hàng hải và đường thủy… Tôi kỳ vọng các dự án luật góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khắc phục bất cập từ thực tiễn, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm tính khả thi.

Về các quyết sách phát triển kinh tế - xã hội, tài chính, ngân sách và huy động nguồn lực, tôi kỳ vọng Quốc hội sẽ có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, tạo động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đồng thời bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Về hoạt động giám sát và chất vấn, đây là nội dung được cử tri đặc biệt quan tâm, nhất là những vấn đề nổi cộm, có tính thời sự, tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tôi kỳ vọng hoạt động giám sát, chất vấn không chỉ làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan mà còn theo dõi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị, kết luận giám sát, tạo chuyển biến cụ thể trong thực tiễn.
Trên hết, tôi kỳ vọng các dự án luật, nghị quyết và quyết sách được Quốc hội thông qua tại kỳ họp đáp ứng 3 yêu cầu: “Đúng, trúng và có tính thực tiễn cao”. “Đúng” là phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; “trúng” là giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đất nước, người dân và doanh nghiệp đang đặt ra; đồng thời phải bảo đảm tính khả thi để các quy định sau khi ban hành có thể nhanh chóng đi vào cuộc sống.
- Tại kỳ họp này, Quốc hội dự kiến xem xét dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Từ thực tiễn thực thi pháp luật, theo đại biểu, đâu là những vấn đề cần ưu tiên hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu quản trị biển trong giai đoạn mới?
- Từ thực tiễn thực thi pháp luật trên biển của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, tôi cho rằng việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là rất cần thiết, nhằm thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng, nhất là Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; khắc phục những bất cập trong thực tiễn, hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý tài nguyên, không gian biển và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Quan trọng hơn, việc sửa đổi Luật cần thúc đẩy chuyển biến tư duy từ “quản lý” sang “quản trị biển hiện đại, tổng hợp và thống nhất”.

Theo tôi, cần tập trung vào 4 nhóm vấn đề trọng tâm.
Thứ nhất, phân định rõ thẩm quyền quản lý, sử dụng không gian biển; quy định trách nhiệm của các cơ quan, lực lượng đối với công trình trên biển, đảo nhân tạo; xác định cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp nhằm khắc phục chồng chéo trong quản lý và thực thi pháp luật.
Thứ hai, gắn chặt phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Cần quy định rõ trách nhiệm lấy ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trong quá trình quy hoạch, phân vùng, giao, cho thuê và khai thác, sử dụng khu vực biển. Đối với các dự án, hoạt động kinh tế biển có yếu tố nước ngoài, cần có cơ chế thẩm định, kiểm soát chặt chẽ trước khi cấp quyền sử dụng tài nguyên, không gian biển, bảo đảm chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, xác định trách nhiệm kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý nhà nước với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển, nâng cao hiệu quả giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm.
Thứ tư, nội luật hóa các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển. Cần rà soát, nội luật hóa các quy định có liên quan trong những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là về phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, bồi thường thiệt hại do sự cố tràn dầu, quản lý nước dằn tàu, bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen biển. Đồng thời, hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất, khả thi, tạo cơ sở để các lực lượng chức năng phát hiện, đấu tranh và xử lý kịp thời những hành vi gây ô nhiễm, xâm hại hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển.
Gắn thế trận lòng dân với trách nhiệm thực thi pháp luật trên biển
- Dự thảo Luật đặt ra yêu cầu gắn khai thác, sử dụng không gian biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Theo đại biểu, cần cụ thể hóa yêu cầu này như thế nào để vừa tạo dư địa phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia?
- Theo tôi, để hài hòa giữa phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, cần cụ thể hóa trong dự thảo Luật ba nhóm giải pháp.

Thứ nhất, gắn yêu cầu quốc phòng, an ninh với toàn bộ quá trình quy hoạch, cấp phép, khai thác và sử dụng không gian biển; bảo đảm việc giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân phát triển kinh tế không ảnh hưởng đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Cần phân định rõ khu vực phục vụ mục đích kinh tế, vùng đệm, công trình lưỡng dụng và khu vực hạn chế khai thác; đồng thời rà soát kết quả thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch và các quy định của dự thảo Luật.
Thứ hai, tăng cường thẩm định, kiểm soát các dự án đầu tư trên biển. Cần quy định rõ cơ chế phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong đánh giá tác động về quốc phòng, an ninh trước khi giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng; đặc biệt tăng cường kiểm soát các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, gắn phát triển sinh kế với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân trên biển. Các quy định của Luật cần tạo điều kiện, khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, nhất là ngư dân và người dân ven biển, phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần.
Tôi cho rằng, phát triển kinh tế biển không chỉ nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của biển mà còn phải tạo điều kiện để người dân, nhất là ngư dân, và doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh tế, hiện diện thường xuyên, hợp pháp trên các vùng biển, nhất là vùng biển xa. Qua đó, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa củng cố thế trận lòng dân, góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam trên biển.
- Quản lý và thực thi pháp luật trên biển liên quan đến nhiều ngành, địa phương và lực lượng. Theo đại biểu, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp, phân định trách nhiệm như thế nào để xử lý hiệu quả các vấn đề liên ngành, liên vùng, khắc phục chồng chéo và tránh bỏ trống nhiệm vụ?
- Đặc thù quản lý không gian biển đòi hỏi cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và lực lượng chức năng, tránh chồng chéo trách nhiệm, bỏ trống địa bàn và bỏ lọt hành vi vi phạm. Theo tôi, dự thảo Luật cần tập trung vào 5 nội dung.

Thứ nhất, phân định rõ cơ quan chủ trì và trách nhiệm phối hợp. Cần quán triệt nguyên tắc “Một cơ quan, tổ chức, lực lượng có thể làm nhiều việc, nhưng một việc chỉ giao một cơ quan, tổ chức, lực lượng chủ trì, chịu trách nhiệm chính”. Cơ quan chủ trì cần được xác định theo phạm vi vùng biển, khoảng cách từ đường cơ sở và lĩnh vực quản lý nhà nước; đồng thời quy định rõ trách nhiệm phối hợp.
Đối với vụ việc phức tạp, liên ngành, phát sinh tại vùng giáp ranh hoặc chưa xác định rõ thẩm quyền, cần quy định cơ quan phát hiện đầu tiên có trách nhiệm xử lý ban đầu. Nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thì chủ trì giải quyết; nếu thuộc thẩm quyền của cơ quan khác thì chuyển giao trong thời hạn do pháp luật quy định. Cơ quan tiếp nhận, chủ trì xử lý có trách nhiệm thông báo kết quả cho cơ quan bàn giao, bảo đảm không bỏ lọt vụ việc hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Thứ hai, thiết lập đầu mối thường trực điều phối liên ngành ở Trung ương, gắn quản lý nhà nước với thực thi pháp luật trên biển. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm tham mưu Chính phủ hoàn thiện cơ chế phối hợp, tạo cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và lực lượng chức năng xây dựng quy chế phối hợp.
Thứ ba, phân định trách nhiệm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cần làm rõ thẩm quyền của cấp tỉnh đối với những vấn đề lớn về quản lý, khai thác tài nguyên, môi trường biển; thẩm định, cấp phép các dự án phát triển kinh tế biển; quản lý tàu cá, cảng cá và giao khu vực biển theo quy định của pháp luật. Cấp xã cần được xác định rõ trách nhiệm quản lý địa bàn, nắm tình hình nhân lực, phương tiện và phối hợp với các lực lượng chức năng.
Việc phân cấp, phân quyền, ủy quyền phải đi đôi với bảo đảm nguồn lực thực hiện, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra vi phạm kéo dài trên địa bàn, lĩnh vực được giao quản lý.
Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông, dùng chung phục vụ quản lý và thực thi pháp luật trên biển. Cần quy định rõ trách nhiệm xây dựng, cập nhật, kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; liên thông với dữ liệu giám sát khu vực biển, công trình trên biển, hành trình tàu cá, đăng kiểm phương tiện, truy xuất nguồn gốc và hệ thống radar giám sát.
Việc chia sẻ dữ liệu kịp thời giữa các lực lượng chức năng, tiến tới kết nối theo thời gian thực, sẽ giúp nâng cao hiệu quả giám sát, phát hiện, xử lý vi phạm, đồng thời hạn chế tình trạng thiếu thông tin hoặc trùng lặp trong thực hiện nhiệm vụ.
Thứ năm, gắn cơ chế phối hợp với trách nhiệm giải trình và giám sát việc thi hành Luật. Dự thảo Luật cần quy định rõ trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức, lực lượng có liên quan; đồng thời hoàn thiện chế tài xử lý hành vi vi phạm, bảo đảm cơ chế phối hợp được thực hiện nghiêm túc, thực chất.
Sau khi Luật được ban hành và có hiệu lực, cần tăng cường giám sát việc tổ chức thi hành, đánh giá hiệu lực, hiệu quả và tính khả thi của các quy định; kịp thời phát hiện, tháo gỡ vướng mắc, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, gắn với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, lợi ích quốc gia và phát triển kinh tế biển bền vững.
- Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!

Tôi cho rằng, việc hoàn thiện dự án Luật lần này không chỉ góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh mà còn tạo hành lang pháp lý vững chắc để các lực lượng chức năng, trong đó có Cảnh sát biển Việt Nam, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; đồng thời góp phần giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.
Thiếu tướng LƯƠNG ĐÌNH HƯNG - Phó Tư lệnh Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam, ĐBQH tỉnh Nghệ An

