Hoàn thiện Luật Hải quan đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới
Việc sửa đổi Luật Hải quan không chỉ nhằm khắc phục những bất cập phát sinh trong thực tiễn mà còn góp phần hoàn thiện thể chế, tạo động lực cho phát triển kinh tế số, thương mại số và hội nhập quốc tế.
Thể chế hóa yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số
Tại Hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan do Liên đoàn thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Bộ Tài Chính (Cục Hải quan) tổ chức sáng ngày 11/6, nhiều ý kiến cho rằng việc hoàn thiện Luật Hải quan không chỉ nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn mà còn tạo nền tảng pháp lý cho quá trình chuyển đổi số, phát triển thương mại điện tử và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.

Phát biểu tại hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Hải quan Nguyễn Thành Hưng cho biết nhiều nghị quyết quan trọng của Trung ương và Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu đẩy mạnh cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy, thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Trong khi đó, thực tiễn triển khai Luật Hải quan năm 2014 cho thấy một số quy định đã bộc lộ hạn chế, chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ và yêu cầu xây dựng hải quan số.
Theo ông Hưng, dự thảo luật lần này dự kiến sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ 42 điều và bổ sung 4 điều mới nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế tư nhân.
Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Hải quan năm 2014 đã góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan. Hệ thống hải quan điện tử, cơ chế một cửa quốc gia, quản lý rủi ro và thanh toán điện tử đã được triển khai rộng khắp, giúp rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số và các mô hình kinh doanh mới đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác quản lý hải quan. Đặc biệt, thương mại điện tử xuyên biên giới tăng trưởng nhanh nhưng hiện vẫn chưa có khung pháp lý đầy đủ để điều chỉnh, dẫn tới nhiều khó khăn trong cả hoạt động quản lý lẫn tổ chức thực hiện của doanh nghiệp.
Theo Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn, dự thảo luật tập trung sửa đổi nhiều nội dung quan trọng như kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử; thủ tục đối với hàng hóa quá cảnh, trung chuyển; trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng; kiểm tra sau thông quan và quản lý tuân thủ.
Ông Tuấn cho rằng cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao những kết quả cải cách của ngành Hải quan trong hơn một thập kỷ qua. Từ mô hình kê khai thủ công, đến nay gần như toàn bộ quy trình đã được điện tử hóa. Thời gian thông quan đối với luồng xanh chỉ còn tính bằng giây, trong khi tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa giảm xuống khoảng 2,65% dù số lượng tờ khai tăng mạnh qua các năm.
Theo các chuyên gia, một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là định hướng xây dựng Hải quan số và Hải quan thông minh, trong đó tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa quy trình nghiệp vụ và quản lý rủi ro trên nền tảng dữ liệu. Cùng với đó là việc chuyển mạnh từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý dựa trên thủ tục sang quản lý dựa trên mức độ tuân thủ của doanh nghiệp.
Nhiều ý kiến nhận định đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý, phù hợp với xu hướng quốc tế và yêu cầu cải cách thủ tục hành chính hiện nay. Theo đó, các doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật sẽ được tạo điều kiện thuận lợi hơn trong hoạt động xuất nhập khẩu, trong khi nguồn lực quản lý sẽ tập trung vào các lĩnh vực, đối tượng có nguy cơ rủi ro cao.
Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của cải cách
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại hội thảo là các quy định liên quan đến thương mại điện tử xuyên biên giới.
Giám đốc Đối ngoại Shopee Phan Mạnh Hà cho rằng cần xem xét lại trách nhiệm khai báo hải quan của chủ quản nền tảng thương mại điện tử. Theo ông, sàn thương mại điện tử chỉ đóng vai trò kết nối người bán với người mua, không sở hữu hàng hóa và cũng không nắm đầy đủ dữ liệu hải quan gốc. Do đó, sàn nên thực hiện vai trò cung cấp thông tin cho cơ quan Hải quan thay vì trực tiếp thực hiện khai báo hải quan.
Ở góc độ doanh nghiệp đầu tư quốc tế, Phó Giám đốc Công ty TNHH BowerGroupAsia Việt Nam Lê Thị Xuân Huế đánh giá chế độ doanh nghiệp ưu tiên là một trong những điểm sáng của Luật Hải quan hiện hành. Theo bà, cơ chế cho phép doanh nghiệp ưu tiên đưa hàng vào sản xuất trước khi hoàn thiện hồ sơ đã hỗ trợ hiệu quả hoạt động của nhiều tập đoàn đa quốc gia và cần được luật hóa để bảo đảm tính ổn định, nhất quán trong thực thi.
Bà Huế cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo bổ sung cơ chế giải trình trong đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp nhằm bảo đảm tính minh bạch và tạo điều kiện để doanh nghiệp có cơ hội làm rõ các nội dung liên quan. Đồng thời, thời hạn kiểm tra sau thông quan kéo dài chỉ nên áp dụng đối với các doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao.
Bên cạnh các góp ý cụ thể, nhiều doanh nghiệp cũng đề nghị tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước và bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Các ý kiến cho rằng trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển kinh tế số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý hiện đại, minh bạch và thích ứng với các mô hình kinh doanh mới sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế.
Tiếp thu các ý kiến tại hội thảo, đại diện Cục Hải quan cho biết cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Luật Hải quan sửa đổi trên cơ sở bảo đảm đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với các cam kết quốc tế và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Việc sửa đổi luật lần này được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng quan trọng cho quá trình xây dựng Hải quan số, thúc đẩy thương mại hợp pháp và góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

