Hoàn thiện cơ chế quản lý tuân thủ, tăng tính minh bạch trong thực thi pháp luật hải quan
Thảo luận về dự án Luật Hải quan (sửa đổi) tại Tổ 12 (gồm các Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long, Điện Biên và Lạng Sơn), các ĐBQH đề nghị hoàn thiện quy định về quản lý tuân thủ, làm rõ ranh giới với quản lý rủi ro, đồng thời bổ sung nguyên tắc kết nối dữ liệu hải quan xuyên biên giới nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập.

Phân định rõ giữa quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro trong hải quan
ĐBQH Vừ A Bằng (Điện Biên) đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định về quản lý tuân thủ (Điều 17a). Theo đại biểu, khoản 2 Điều 17 của dự thảo Luật đã cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia khi cho phép cơ quan hải quan ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để tự động hóa quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.
Đại biểu phân tích, kết quả quản lý rủi ro là căn cứ để cơ quan hải quan quyết định áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát theo mức độ rủi ro và mức độ tuân thủ pháp luật. Do đó, việc ứng dụng công nghệ không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan. Điều 17 và Điều 17a có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó Điều 17a là hệ quả trực tiếp của Điều 17.

Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc kiểm tra, rà soát, đối chiếu, xác minh lại kết quả do hệ thống hỗ trợ xử lý khi người khai hải quan cho rằng kết quả chưa chính xác; đồng thời chưa có cơ chế để người khai hải quan được giải trình hoặc đề nghị xem xét lại kết quả khi có căn cứ cho rằng kết quả xử lý của hệ thống chưa chính xác.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung các quy định nêu trên, bảo đảm nguyên tắc ứng dụng công nghệ phải gắn với trách nhiệm, tính minh bạch và quyền lợi của đối tượng chịu tác động của quyết định quản lý.
Đối với quy định về kiểm tra thực tế hàng hóa (Điều 33), đại biểu Vừ A Bằng đề nghị cân nhắc việc chuyển thẩm quyền quyết định miễn kiểm tra thực tế đối với "hàng hóa thuộc trường hợp đặc biệt khác" từ Thủ tướng Chính phủ sang Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi xử lý hồ sơ hải quan.
Theo đại biểu, Báo cáo tổng kết thi hành Luật Hải quan cho thấy quy định này chưa từng được thực hiện do thực tế chưa phát sinh và chưa xác định cụ thể các trường hợp đặc biệt. Vì vậy, việc phân cấp thẩm quyền nhưng chưa làm rõ tiêu chí áp dụng có thể dẫn đến cách hiểu và thực hiện không thống nhất.

Đại biểu cũng viện dẫn khoản 7 Điều 6 Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15, theo đó việc phân quyền, phân cấp phải bảo đảm rõ chủ thể, nội dung, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giải trình, giám sát, kiểm tra và kiểm soát quyền lực. Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị hoặc giữ nguyên quy định hiện hành tại điểm c khoản 1 Điều 33, hoặc nếu sửa đổi thì giao Bộ Tài chính quy định nguyên tắc, tiêu chí xác định "các trường hợp đặc biệt khác", bảo đảm thực hiện chủ trương phân cấp, phân quyền nhưng vẫn thống nhất trong quá trình áp dụng.
Liên quan đến điểm a khoản 2 Điều 74, đại biểu đề nghị xem xét quy định theo hướng, trong trường hợp chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đã đề nghị kiểm tra, giám sát và cơ quan hải quan đã phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì không nhất thiết tiếp tục yêu cầu chủ thể quyền nộp đơn đề nghị tạm dừng. Nếu cơ quan hải quan đã có đủ căn cứ từ kết quả kiểm tra, giám sát thì cần cho phép quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan ngay, bảo đảm tính kịp thời của biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ cho tổ chức, cá nhân.

Cho ý kiến về quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ trong hải quan, ĐBQH Nguyễn Đào Tùng (Vĩnh Long) cho rằng, quy định tại Điều 17a và Điều 17b còn trùng lặp đáng kể. Cả hai điều đều quy định về thu thập, xử lý thông tin, xây dựng hồ sơ, áp dụng tiêu chí đánh giá và biện pháp quản lý, khiến chưa làm rõ ranh giới giữa quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ trong hải quan. Điều này có thể gây khó khăn trong việc xác định khi nào áp dụng quản lý rủi ro, khi nào áp dụng quản lý tuân thủ, ảnh hưởng đến tính thống nhất và khả thi của pháp luật.
Đại biểu đề nghị quy định rõ quản lý rủi ro là phương pháp đánh giá, kiểm soát rủi ro trong hoạt động hải quan đối với hàng hóa, quy trình, kỹ thuật, an toàn; còn quản lý tuân thủ là phương pháp đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của từng chủ thể, người khai hải quan để xác định mức độ rủi ro, mức độ tuân thủ và áp dụng biện pháp quản lý phù hợp.
Đề nghị bổ sung nguyên tắc kết nối dữ liệu hải quan xuyên biên giới
Quan tâm quy định về đại lý làm thủ tục hải quan (Điều 20), đại biểu Nguyễn Đào Tùng cho rằng, khoản 3 Điều 20 giao Chính phủ quy định chi tiết nhưng chưa xác định rõ những nội dung cơ bản phải quy định trong luật. Dự thảo Luật cũng chưa quy định các điều kiện, tiêu chuẩn cơ bản đối với đại lý làm thủ tục hải quan như yêu cầu về nhân lực, kinh phí, trang thiết bị, trình độ chuyên môn mà giao toàn bộ cho Bộ Tài chính quy định, có nguy cơ làm giảm tính minh bạch của cơ chế.

Vì vậy, mặc dù đại lý làm thủ tục hải quan không còn thuộc danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, đại biểu đề nghị dự thảo Luật vẫn nên giữ các điều kiện cơ bản đối với đại lý và nhân viên đại lý, hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết thay vì Bộ Tài chính để bảo đảm đúng thẩm quyền và tính ổn định của hệ thống pháp luật.
Cùng với đó, một số đại biểu cho rằng, khoản 2 Điều 84 đang liệt kê quá chi tiết các quyền quản lý thuế như ấn định thuế, hoàn thuế, miễn, giảm thuế, khoanh nợ, xóa nợ, cưỡng chế, gia hạn... khiến Luật Hải quan trở nên dài và khó theo dõi. Khi Luật Quản lý thuế được sửa đổi thì Điều 84 của Luật Hải quan cũng phải sửa đổi tương ứng.
Các đại biểu đề nghị điều chỉnh Điều 84 theo hướng không liệt kê toàn bộ các nghiệp vụ mà quy định khái quát: "cơ quan hải quan thực hiện quản lý thuế đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật về quản lý thuế".
ĐBQH Đoàn Thu Hà (Lạng Sơn) đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, bổ sung nguyên tắc kết nối dữ liệu hải quan xuyên biên giới và cơ chế công nhận có điều kiện kết quả kiểm tra, kiểm soát giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước đối tác theo điều ước, thỏa thuận quốc tế.

Theo đại biểu, đây là xu hướng của hải quan hiện đại, góp phần giảm kiểm tra trùng lặp, rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây không chỉ là yêu cầu của chuyển đổi số mà còn là bước chuyển từ quản lý đơn lẻ tại từng cửa khẩu sang quản trị chuỗi logistics xuyên biên giới bằng dữ liệu.
Đại biểu cho rằng, việc bổ sung nguyên tắc này sẽ tạo cơ sở pháp lý để triển khai cửa khẩu thông minh, trước mắt tại các tuyến cửa khẩu Việt Nam - Trung Quốc và lâu dài trong quá trình hội nhập quốc tế. Đồng thời, đề nghị bổ sung vào Điều 4 của dự thảo Luật quy định giải thích các thuật ngữ "cơ chế một cửa quốc gia", "cơ chế một cửa ASEAN" và các khái niệm liên quan theo hướng bao gồm việc kết nối, chia sẻ dữ liệu điện tử với cơ quan hải quan và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo điều ước, thỏa thuận quốc tế.

