Thời sự Quốc hội

Hoàn thiện cơ chế quản lý không gian biển, bảo đảm hài hòa lợi ích

Thanh Hải • 06/11/2026 16:50

Các ĐBQH tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đồng thời đề nghị hoàn thiện cơ chế quản lý, điều phối không gian biển, bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân.

Chiều 6/11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về: dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên họp
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Bảo đảm sinh kế và quyền tiếp cận biển của người dân

Các ĐBQH đều tán thành sự cần thiết xây dựng dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), khẳng định đây là dự án luật có ý nghĩa chiến lược, không chỉ hoàn thiện thể chế quản lý biển mà còn tạo nền tảng cho phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ chủ quyền, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm sinh kế lâu dài cho nhân dân.

Các đại biểu nhấn mạnh, biển không chỉ là không gian phát triển kinh tế mà còn là không gian sinh tồn của cộng đồng dân cư ven biển. Vì vậy, dự thảo Luật cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khai thác và bảo tồn, lợi ích quốc gia và quyền lợi chính đáng của người dân, phát triển trước mắt và trách nhiệm với các thế hệ tương lai.

Quan tâm đến chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển trong phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển, ĐBQH Triệu Thị Ngọc Diễm (TP. Cần Thơ) cho rằng, Điều 47 của dự thảo Luật chưa xác định rõ trách nhiệm lập phương án, nguồn kinh phí và thời điểm triển khai hỗ trợ đối với cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp.

ĐBQH Triệu Thị Ngọc Diễm (TP Cần Thơ). Ảnh Hồ Long
ĐBQH Triệu Thị Ngọc Diễm (TP. Cần Thơ) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Đại biểu lưu ý, trong quá trình sử dụng không gian biển, cần tính đến những người dân có hoạt động mưu sinh hợp pháp nhưng không thuộc đối tượng có quyền sử dụng khu vực biển bị thu hồi. Nếu chỉ xem xét hỗ trợ khi thu hồi khu vực biển thì chưa bao quát được nhóm người bị giảm thu nhập hoặc phải chuyển đổi nghề do tác động của dự án.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung sau khoản 3 Điều 47 quy định: đối với cộng đồng dân cư ven biển có sinh kế hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án sử dụng không gian biển, UBND cấp tỉnh tổ chức xác định đối tượng, mức độ ảnh hưởng và phê duyệt phương án hỗ trợ.

Phương án phải được tham vấn cộng đồng, công khai về đối tượng, nội dung, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm thực hiện; bảo đảm các biện pháp hỗ trợ cần thiết được triển khai trước khi hoạt động của dự án làm gián đoạn sinh kế của người dân.

Đồng thời, cần giao Chính phủ quy định rõ trách nhiệm đóng góp kinh phí của chủ dự án tương ứng với tác động do dự án gây ra, phần hỗ trợ của Nhà nước và nguyên tắc không chi trả trùng cho cùng một đối tượng.

Theo đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế phải hướng đến việc làm và thu nhập thực tế. Người dân cần biết sau khi thay đổi hoạt động sản xuất, họ có thể làm gì, được hỗ trợ như thế nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi.

ĐBQH Lê Hữu Trí (Khánh Hòa). Ảnh Hồ Long
ĐBQH Lê Hữu Trí (Khánh Hòa) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Cùng quan tâm đến quyền lợi của người dân ven biển, ĐBQH Lê Hữu Trí (Khánh Hòa) đề nghị làm rõ cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng. Theo đại biểu, bên cạnh các quy định tại Điều 9, 10, 23 và 52 của dự thảo Luật, cần chú trọng cơ chế thực thi trên thực tế. Bởi nếu không kiểm soát chặt chẽ từ khâu quy hoạch, giao khu vực biển đến phê duyệt dự án thì khi công trình đã hoàn thành, việc khôi phục lối tiếp cận biển cho người dân sẽ rất khó khăn.

Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi tắm công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng. Không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư. Cùng với đó, cần quy định cơ chế công khai quy hoạch, tham vấn cộng đồng thực chất và xử lý nghiêm hành vi chiếm dụng không gian biển công cộng.

Rõ đầu mối, thẩm quyền và trách nhiệm quản lý không gian biển

Về cơ chế điều phối và trách nhiệm quản lý không gian biển, các đại biểu đồng tình với quy định tại Điều 6 và Điều 7 về việc giao Chính phủ thống nhất quản lý, đồng thời thiết lập cơ chế điều phối, phối hợp liên ngành.

Tuy nhiên, đại biểu Lê Hữu Trí cho rằng, nếu chỉ quy định phối hợp mà không xác định rõ trách nhiệm quyết định, trách nhiệm giải trình và thời hạn xử lý thì nguy cơ chồng chéo vẫn còn, thậm chí có thể phát sinh thêm tầng nấc hành chính.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận
Các đại biểu tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Quang Khánh

Đại biểu dẫn quy định tại Điều 22 về trách nhiệm quản lý không gian biển của cấp tỉnh, cấp xã đối với vùng biển ngoài ranh giới quản lý hành chính do Trung ương quản lý, trong khi Điều 6 đặt ra trách nhiệm quản lý cho nhiều cấp, nhiều ngành.

Do vậy, cần quy định rõ cơ quan đầu mối, thẩm quyền xử lý cuối cùng đối với các vấn đề liên ngành, liên vùng; phân định cụ thể trách nhiệm giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã. Việc phân cấp cũng phải đi đôi với bảo đảm nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và cơ chế kiểm tra, giám sát.

Cũng về nội dung này, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm lưu ý, tại những địa phương phát triển đồng thời cảng biển, năng lượng, thủy sản và du lịch, một khu vực biển có thể liên quan đến nhiều ngành. Nếu chỉ dừng ở việc lấy ý kiến, tổng hợp và báo cáo mà không quy định thời hạn xử lý thì hồ sơ có thể kéo dài, doanh nghiệp khó dự tính tiến độ, người dân cũng không biết hoạt động hiện hữu của mình sẽ được giải quyết ra sao.

Do vậy, tại Điều 21, đại biểu đề nghị quy định rõ việc giải quyết xung đột, chồng lấn phải xác định cơ quan chủ trì, cơ quan có thẩm quyền quyết định và thời hạn xử lý. Trường hợp hết thời hạn phối hợp mà các bên chưa thống nhất, cơ quan chủ trì phải tổng hợp đầy đủ ý kiến, trình cơ quan có thẩm quyền quyết định. Việc chưa thống nhất không được trở thành lý do kéo dài quá trình xử lý không xác định thời hạn.

ĐBQH Nguyễn Thanh Ngân (Khánh Hòa) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
ĐBQH Nguyễn Thanh Ngân (Khánh Hòa) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Ở góc độ khác, ĐBQH Nguyễn Thanh Ngân (Khánh Hòa) cho rằng, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 17 về việc từ chối cấp phép khi khu vực nghiên cứu có sự chồng lấn với các hoạt động khai thác, sử dụng biển hợp pháp khác chưa thực sự linh hoạt, chưa phù hợp với nguyên tắc quản lý không gian biển đa mục đích.

“Việc chồng lấn về tọa độ địa lý không đồng nghĩa với việc hai hoạt động sẽ triệt tiêu lẫn nhau”, đại biểu nhấn mạnh.

Theo đó, thay vì từ chối cấp phép dựa trên ranh giới không gian, cần sửa đổi theo hướng chỉ từ chối khi hoạt động nghiên cứu khoa học thực sự gây mất an toàn, làm gián đoạn nghiêm trọng hoạt động thương mại hợp pháp và không thể khắc phục bằng các biện pháp giảm thiểu.

Khi xảy ra chồng lấn, cơ quan quản lý nên yêu cầu hoặc tạo điều kiện để các bên đàm phán, điều chỉnh nhằm cùng tồn tại, thông qua những giải pháp như điều chỉnh thời gian, không gian vi mô hoặc thay đổi phương thức thực hiện.

ĐBQH Nguyễn Văn Ngọc (Lâm Đồng) phát biểu
ĐBQH Nguyễn Văn Ngọc (Lâm Đồng) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh

Đại biểu Nguyễn Thanh Ngân cũng đề nghị rà soát điểm c khoản 3 Điều 17 để bảo đảm thống nhất với Điều 13 và các quy định khác trong dự thảo Luật. Cụ thể, quy định hiện nay yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học không được gây ô nhiễm môi trường biển, hủy hoại hệ sinh thái biển nhưng chưa đề cập đến hành vi gây suy thoái môi trường biển.

Theo đại biểu, suy thoái môi trường có thể xảy ra trước khi hệ sinh thái bị hủy hoại, như suy giảm chất lượng nước biển, biến đổi đặc tính trầm tích hoặc suy giảm chất lượng môi trường sống của các loài sinh vật. Đây cũng là những tác động tiêu cực cần được phòng ngừa ngay từ khâu xem xét cấp phép nghiên cứu khoa học.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ “suy thoái môi trường biển”, đồng thời cân nhắc quy định rõ yêu cầu không làm suy giảm nghiêm trọng chức năng, cấu trúc hệ sinh thái biển, bảo đảm bao quát đầy đủ các mức độ tác động và thống nhất với cách tiếp cận tại Điều 13.

    Hoàn thiện cơ chế quản lý không gian biển, bảo đảm hài hòa lợi ích
    • Mặc định