Hết lòng với giấy dó, màu son

Cao Sơn 05/09/2012 08:42

Nặng lòng với giấy dó, màu son, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã vận động con cháu cùng góp của, góp công đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng Trung tâm lưu giữ, bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ tại xã Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Hết lòng với giấy dó, màu son ảnh 1Vàng son một thuở

Theo các nghệ nhân, nghề làm tranh Đông Hồ ra đời từ khoảng thế kỷ thứ XVI, thế nhưng hơn 500 năm qua, chưa ai nghe nói đến tổ nghề của tranh Đông Hồ. Dường như tất cả tinh hoa của dòng tranh này đều qua bàn tay các nghệ nhân dân gian mà được lưu truyền, phát triển từ đời này sang đời khác, từ thế kỷ này sang thế kỷ kia. Thời kỳ cực thịnh của dòng tranh này là vào khoảng những năm 1940. Thời điểm đó cả 17 dòng họ trong làng đều làm tranh. Xưa, cứ đến tháng Chạp làng lại mở đến 5 phiên chợ bán tranh Tết vào các ngày mồng 6, 11, 16, 21 và 26.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế kể, để chuẩn bị cho các phiên chợ, cả làng tất bật từ tháng 6, tháng 7 âm lịch. Từ sân nhà đến sân đình, trên triền đê sông Đuống đâu đâu cũng sáng bừng sắc màu của tranh: sắc đỏ của sỏi son, sắc xanh từ lá chàm hoặc gỉ đồng, sắc vàng của hoa hòe, màu đen của tro rơm nếp và lá tre, màu trắng óng ánh từ vỏ sò, vỏ điệp. Đây là những màu cơ bản, không pha trộn. Do số lượng màu tương ứng với số bản khắc của một bức tranh, nên thường tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu. Bản khắc phải làm bằng gỗ cây thị thì mới cho ra những bức tranh sắc nét. Nét dân gian của tranh Đông Hồ không chỉ nằm ở bố cục, hình ảnh rất đặc trưng, mà còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Người làng Đông Hồ thường mua giấy dó, làm từ vỏ cây dó, cũng được sản xuất lại Bắc Ninh, sau đó lấy vỏ sò tán nhuyễn trộn với hồ nếp và quét lên giấy dó, đem đi phơi khô.

Mỗi khi Tết đến, Xuân về, người dân nông thôn lại lột bỏ tranh cũ, mua tranh mới về dán lên tường, chơi Tết gửi gắm vào tranh những mong muốn một năm mới nhiều may mắn. Người am tường thường chọn mua tranh theo bộ, theo đôi như: Vinh hoa với hình ảnh bé ôm gà và Phú quý với hình ảnh bé ôm vịt. Cũng có người lại chọn những bức tranh đơn như: Gà dạ xướng mang ý nghĩa là xua đi những điều không may mắn, đem lộc đến với gia đình hoặc bức Gà thư hùng mang theo ước muốn: Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông. No vợ đủ chồng, có đầu có mỏ.

Năm tháng qua đi, những chợ phiên ngày ấy nay đã không còn nữa.

Nặng lòng với giấy dó, màu son

Mấy thập kỷ qua, tranh Đông Hồ lắt lay với cơn gió thị trường. Năm 1967, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Bắc (cũ) ký hợp đồng với Nhật Bản thành lập đội sản xuất tranh. Thời gian đầu, đội chỉ in cầm chừng mỗi tháng được trên dưới 1.000 tờ. Từ năm 1970 - 1985, tranh Đông Hồ được xuất sang các nước trong khối xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ này, việc xuất khẩu tranh đạt được kết quả nhất… Sau hơn nửa thiên niên kỷ tồn tại và phát triển từ thời 17 dòng họ trong làng đều làm tranh, nay hầu hết đều bỏ nghề chỉ còn hai gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam.

Dòng họ Nguyễn Đăng đến nay đã qua 20 đời nối nghiệp giữ nghề làm tranh. Nặng lòng với giấy dó, màu son, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã vận động con cháu cùng góp của, góp công đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng Trung tâm lưu giữ, bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ tại xã Song Hồ. Trung tâm tọa lạc trên khu đất rộng khoảng 7.000m2 nằm sát đê sông Đuống, gồm khu trưng bày, xưởng khắc và xưởng in tranh. Ông Chế dự định sẽ tiếp tục huy động vốn để biến nơi đây thành điểm đến du lịch nghỉ dưỡng, vừa là nơi lưu giữ, giới thiệu những nét đẹp của nghệ thuật tranh dân gian Đông Hồ. Khu vực chợ quê ngay sát Trung tâm sẽ được đầu tư xây dựng nhằm phục dựng các phiên chợ tranh xưa. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế chia sẻ, vì yêu dòng tranh dân gian Đông Hồ, muốn gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, di sản quý báu của ông cha để lại nên ông ý thức việc dạy các con nghề làm tranh. Các con ông, dù dâu hay rể, ai cũng biết pha màu, in tranh.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giới thiệu nghệ thuật tranh Đông Hồ
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giới thiệu nghệ thuật tranh Đông Hồ

Qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc, những bản khắc cổ có giá trị đã bị hư hỏng, thất lạc khá nhiều. Đến nay cũng chưa thống kê chính xác số mẫu tranh Đông Hồ có bao nhiêu thể loại. Được thừa hưởng từ các bậc tiền nhân, ông Nguyễn Đăng Chế đang lưu giữ hàng trăm bản khắc, khuôn tranh, trong đó có nhiều bản khắc gỗ cổ quý hiếm cách đây trên 200 năm. Mới đây, một nhà nghiên cứu người Pháp sau khi đến thăm Trung tâm đã gửi tặng nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế gần 30 mẫu tranh Đông Hồ mà ông sưu tầm được. Đây đều là các mẫu tranh lạ mà ông Chế chưa từng thấy. Điều này khẳng định, mẫu tranh Đông Hồ qua các thời kỳ rất đa dạng, nhưng do biến cố lịch sử đã bị mai một.

Theo nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, tranh Đông Hồ vốn có đề tài khá phong phú, gắn liền với đời sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và nhất là phản ánh chân thật đời sống của nhân dân. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tranh Đông Hồ vẫn dựa trên những đường nét, chất liệu, màu sắc cũ nhưng đã phát triển lên một bậc là miêu tả các đề tài hiện thực lúc bấy giờ như về Bác Hồ, tăng gia sản xuất, bắn máy bay Mỹ... Đó chính là sự phát triển, tiếp nối của nghệ thuật dân gian qua chính tài năng, tâm huyết của các nghệ nhân.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Hết lòng với giấy dó, màu son
        • Mặc định