Hầm rượu (Phần cuối)
Truyện của Phạm Thị Ngọc Liên
Minh.
Tám giờ rưỡi tối. Người sĩ quan cảnh sát khuyên tôi trở về khách sạn và giao điện thoại của Nguyệt cho ông ta: “Sáng mai chúng tôi vẫn tiếp tục truy tìm”. Vầng trán ông nhăn lại và tôi nhìn thấy điều băn khoăn, khó xử tiềm ẩn trong mắt ông. Tôi bật thốt: “Tôi không tin đây là số điện thoại dùng một lần. Có phải nó thuộc về người nào đó ông biết mà không dám đụng tới không? Nếu ông không giúp tôi, tôi sẽ phải nhờ đến tổng lãnh sự quán của chúng tôi can thiệp…” Nhìn thấy vẻ ngần ngừ trong mắt ông, tôi nói tiếp: “Tôi xin ông đấy. Có lẽ ông cũng có gia đình, có vợ con. Ông hiểu việc mất người thân là thế nào. Xin hãy giúp tôi. Chúng tôi còn chưa kịp làm lễ cưới nữa. Tôi không thể mất cô ấy được”.
Ông ta thở dài đứng dậy, vỗ vai rồi kéo tôi bước ra khỏi đồn cảnh sát: “Ra ngoài đi. Chúng ta sẽ nói chuyện tiếp”. Chúng tôi đi bách bộ một đoạn và đứng lại dưới chân một chiếc cầu nhỏ, ông ta bảo: “Anh thông minh lắm. Số máy đó có chủ nhưng đụng vào người ấy là cả một việc khó khăn. Có lẽ chúng ta phải tính đến con đường khác”.
9 giờ 15 tối. Chúng tôi đứng trước một quán rượu đêm của Venice – một cái quán mà khi bước vào tôi đã rùng mình vì không khí ngầu đục, dữ dội của nó. Hầu như những tay anh chị giang hồ trong các bộ phim về mafia tôi đã xem đều có mặt ở đây. Những hình xăm vằn vện khiến tôi hoa cả mắt. Họ lừ lừ nhìn tôi và người sĩ quan cảnh sát bước đến quầy bar. Người phục vụ bar – một anh chàng lực lưỡng, cơ bắp với hình xăm hai con đại bàng trên hai bả vai, hất hàm hỏi người sĩ quan cảnh sát: “Mateo. Ngọn gió nào đưa ông đến đây? Không phải để bắt người nào trong bọn tôi chứ?” Ông ta đáp: “Không. Tôi muốn gặp Baricco, ông chủ của các anh”.
| |
Nguyệt.
Một cảm giác tê cóng lan tỏa từ chân lên đến ngực khiến tôi muốn kêu lên nhưng không được. Hình như quai hàm và các cơ mặt tôi cũng tê cứng, chỉ còn đôi mắt là có thể động đậy, liếc qua liếc lại. Điều đó làm tôi kinh hoảng khi nhận thức ra mình không còn ngồi ở chiếc ghế bành nữa. Tôi đang nằm trên một lớp nệm dày trong một chiếc giường kỳ lạ - giường có nắp đậy. Mắt tôi nhìn sững vào cái nắp đậy có lót nhung đen đó và chợt liên tưởng đến chiếc rương trạm trổ rất đẹp, đặt ở góc phòng. Phải chăng tôi đang nằm trong chiếc rương này? Jean Paul muốn gì ở tôi? Ông ta đâu rồi?
Như để trả lời những suy nghĩ của tôi, Jean Paul đột ngột xuất hiện bên cạnh. Tay cầm chiếc lược, ông ta chậm rãi chải đầu cho tôi. Vừa chải, ông ta vừa thì thầm: “Em sẽ không đau lắm đâu. Anh đã chích cho em một liều thuốc ngủ. Nó sẽ ngấm từ từ trong hai mươi tư giờ tới và em sẽ ngủ một giấc vĩnh viễn bên cạnh anh. Chúng ta sẽ không bao giờ lìa xa nữa, Moon ạ”.
Nước mắt tôi tuôn ra ràn rụa. Tôi đưa ánh mắt thống thiết nhìn Jean Paul, miệng cố gắng thốt ra một lời nài nỉ, xin ông ta đừng hại mình. Nhưng lưỡi tôi cũng đã cứng lại. Jean Paul lấy khăn lau nước mắt cho tôi: “Đừng khóc nữa Moon. Em đã về nhà, có gì phải buồn chứ”. Tôi muốn gào lên: “Ông lầm rồi. Đây không phải là nhà tôi. Tôi cũng không phải là Moon của ông. Tôi là Nguyệt. Hãy thả tôi ra”.
Một luồng khí lạnh xộc thẳng từ chân lên đầu khiến tôi bất tỉnh.
Minh.
Mateo dặn tôi: “Khi gặp Baricco, anh cứ ngồi im, để yên cho tôi nói, nghe chưa?” Người phục vụ dẫn chúng tôi vào một căn phòng phía sau quầy bar. “Vào đó chờ đi”, anh ta nói cộc lốc rồi quay lưng bước ra ngoài. Năm phút sau, Baricco xuất hiện. Đó là một người đàn ông đẹp trai, thanh lịch nhất mà tôi có thể thấy từ trước tới giờ. Trong bộ vest cắt khéo, ôm sát thân hình, anh ta giống như một người mẫu, một diễn viên điện ảnh. Trong đầu tôi bật ra ý nghĩ: trùm mafia mà lịch lãm thế này, ai mà ngờ nổi? Nhưng ý nghĩ của tôi bị tắt ngang ngay khi Baricco cất giọng – một giọng nói lạnh lẽo, đáng sợ khiến tôi rùng mình. Kéo ghế ngồi đối diện chúng tôi, anh ta hỏi: “Anh cần gì ở tôi, Mateo?”
Mateo đằng hắng liên tục. Anh có vẻ khó khăn lắm mới thốt ra được câu nói: “Chúng tôi có vấn đề với ngài J. Tôi nghĩ chỉ có anh mới can thiệp được và đành phải đến đây”. Baricco đốt một điếu xì gà và hất hàm mời: “Hút đi rồi nói cho tôi biết đó là chuyện gì…”
Một giờ sáng. Các con đường của Venice đã thưa thớt bóng người. Những chiếc Gondola cuối cùng im lặng lướt trên các dòng kênh trong lúc chúng tôi đi như những con mèo trên đường phố. Sau khi nghe Mateo kể chuyện, Baricco yêu cầu tôi đưa ảnh Nguyệt cho anh ta xem. Cầm tấm ảnh trong tay, anh ta hơi nhíu mày một chút và giụi tắt điếu xì gà, anh ta xem lại tấm ảnh một lần nữa, kỹ hơn. Mười phút im lặng trôi qua, tôi nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch và hơi thở cố kềm nén của Mateo. Thế rồi, đột ngột Baricco xô ghế đứng dậy, bấm điện thoại. Anh ta xưng tên và nói một tràng tiếng Ý. Đầu dây bên kia nói điều gì đó khiến Baricco cau mặt. Anh ta nói thêm vài câu tiếng Ý nữa và gác máy. Quay sang Mateo và tôi, anh ta bảo: “Được. Tôi sẽ gọi vài người đi theo các anh”.
Chúng tôi có sáu người. Baricco, Mateo, tôi và ba anh chàng lực lưỡng, đàn em của Baricco. Tôi và Mateo đi phía sau Baricco và đàn em một quãng vì anh ta muốn vậy. Trong lòng tôi, hàng trăm câu hỏi cứ muốn buột ra khỏi miệng. Có lẽ Mateo biết điều ấy nên ông ta chau mày nhìn tôi và lắc đầu, đưa tay lên miệng. Tôi đành giữ im lặng để theo sau.
Đến cuối một ngõ cụt thanh vắng, Baricco khẽ hất đầu. Tôi rợn cả người khi thấy ba kẻ lực lưỡng đi theo anh ta nhanh nhẹn chia ra làm ba phía, đứng canh một cánh cổng bằng đá có giàn hoa tigone buông rủ. Baricco tiến sát đến bên cổng, khẽ huýt sáo miệng. Cánh cổng mở ra ngay như có người đang chờ đợi và một người đàn bà cao gầy xuất hiện. Bà ta thì thào: “Giê Su Ma, lạy Chúa tôi, em đã đến rồi. Chị sốt ruột quá”. Baricco cũng thì thào: “Ông ấy đâu?” Người đàn bà đáp: “Dưới căn phòng đó. Cả cô gái nữa. Họ xuống từ đêm qua và không hề bước ra ngoài”.
Mateo.
Chúng tôi, sáu người đàn ông đi như chạy lên các bậc thang bằng đá lạnh buốt sau lưng bà Maria. Đây là lần đầu tiên tôi được bước vào lãnh địa của ngài J. Cả thành phố Venice đều kính cẩn gọi ông ta như thế để tỏ lòng kính trọng và biết ơn ba thế hệ gia đình ông đã đóng góp phần lớn tiền của để xây dựng nên một Venice thiên đường. Với công lao đó, ngài J. được xem là người bất khả xâm phạm dưới bất cứ hình thức nào.
Số điện thoại đó là của ngài J. Ông ấy có liên quan tới việc cô gái mất tích không? Theo quy định, chúng tôi không được phép làm phiền ngài J. về một điều mình chưa dám chắc chắn. Nhưng vẻ mặt đau khổ của chồng cô ta khiến tôi không chịu nổi. Bất chợt tôi nhớ đến Baricco. Anh ta là trùm của thế giới ngầm ở Venice nhưng lại là anh vợ của ngài J. Như một giao ước ngầm giữa cảnh sát và mafia, Baricco cũng là một người bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, mặc dù là trùm của thế giới ngầm, Baricco luôn tỏ ra mình là một quý ông. Có thể anh ta sẽ giúp được chúng tôi trong việc này.
Baricco đã nhíu mày khi thấy ảnh của Nguyệt. Trông cô chẳng khác gì em gái anh ta – vợ của ngài J. Một sự giống nhau đáng kinh ngạc. Lúc cầm tấm ảnh Nguyệt và Minh chụp chung, tôi đã ngờ ngợ như từng gặp cô gái này nhiều lần nhưng mãi không nhớ ra. Tôi chỉ giật mình khi nghe Baricco hỏi Maria qua điện thoại: “Tối qua, có một cô gái giống hệt Catherina về nhà chung với J. không?”
Chúng tôi đi theo bà Maria xuống căn phòng dưới đáy nước, nơi ngài J. không cho phép ai – kể cả người chị họ là Maria – được vào. Vừa đi, Maria vừa nói ríu rít, chữ nọ nuốt chữ kia. Bà ta bảo đã giật mình khi mở cổng và nhìn thấy Nguyệt: “Giê Su Ma, tôi tưởng là Catherina hiện hồn về nhưng J. đã trừng mắt khiến tôi câm miệng. J. đưa cô ta xuống đây từ lúc đó và không trở lên nữa. Tôi không dám làm phiền J. nhưng tôi biết có gì đó không bình thường…”.
Căn phòng khóa kín từ bên trong. Baricco ra hiệu cho chúng tôi lùi lại một bước rồi lên tiếng gọi: “Justavio, mở cửa cho anh. Baricco đây”.
Bên trong im phăng phắc. Từ phía sau tôi, Minh nôn nóng muốn bước lên nhưng một vệ sĩ của anh ta đã đưa tay chận lại. Baricco gọi tiếp: “Justavio. Mở cửa đi. Ta cần nói chuyện”.
Vẫn không có tiếng trả lời. Khoảng thời gian chờ đợi dài như một thế kỷ. Sau một cái hất hàm của Baricco, tên vệ sĩ đứng sau lưng anh ta tiến ra phía trước. Trong nháy mắt, cánh cửa bật mở và cả bảy người chúng tôi rụt cổ lại vì hơi lạnh tràn ra từ bên trong. Minh bất chấp nguy hiểm, nhảy vào trong phòng ngay và kêu to: “Nguyệt. Em đâu rồi? Anh là Minh đây”.
Chúng tôi theo chân Minh, bước vào giữa phòng. Không có ai trong đây cả. Chỉ có những chai rượu uống dở và hai chiếc ly trên bàn.
Baricco nhìn thấy chiếc rương khổng lồ trước nhất. Anh ta tiến về góc phòng và sai hai vệ sĩ mở nắp chiếc rương lên. Cả bảy người chúng tôi trợn tròn mắt, chết sững. Bên trong, ngài J. đang nằm bên cạnh cô gái mất tích. Cả hai đều có gương mặt trắng bệch như những thây ma…
Nguyệt.
Chúng tôi đã làm lễ cưới ngay tại nhà thờ thánh Mark, dưới sự chủ trì của Baricco. Anh ta bảo rằng cái biến cố không thể nào quên trong đời chúng tôi cần phải có một kết thúc đẹp trong tay Chúa Trời. Thật là một hành động khác người của “quý ông mafia”.
Jean Paul - hay Justavio - đã rời khỏi Venice trên một chuyên cơ riêng để đến Mỹ trị bệnh. Ngoài việc phát giác ra tôi và ông hầu như sắp chết do ngấm thuốc ngủ, Baricco còn tìm thấy bộ xương gần như mủn nát của Catherina ở… dưới lưng tôi. Ngài J. đã giữ xác vợ trong rương rất nhiều năm, cho đến khi không gian băng giá của căn phòng cũng không ngăn được sự phân hủy. Đó là lúc tâm thần ngài J. bất định và ngài kết luận là Catherina đã bỏ đi vì giận dỗi chồng.
Tôi là người tình cờ mang gương mặt giống hệt Catherina và ngài J. quyết định đưa tôi về thay thế vị trí vợ ngài trong chiếc rương. Ngài cũng muốn đi cùng vợ sang thế giới bên kia để họ không còn xa nhau nữa.
Tôi có nên căm giận Jean Paul vì đã đưa mình đến chỗ chết không? Nghe Baricco kể chuyện và nhìn gương mặt cố giấu kín nỗi đau đớn của anh ta, tôi chỉ thấy lòng buồn muốn khóc. Tình yêu có sức mạnh khủng khiếp như vậy sao?
Jean Paul tỉnh dậy trước tôi trong bệnh viện. Có lẽ sau khi đặt tôi vào rương và trèo lên nằm bênh cạnh, ông mới tự chích thuốc ngủ cho mình nên thuốc ngấm chưa lâu. Tuy tỉnh trước nhưng ông không thoát ra khỏi thế giới mộng ảo mà ông tự tạo. Vì thế, ông đã la hét, vùng vẫy, gọi tên tôi ầm ĩ suốt một dãy hành lang. Bác sĩ và y tá phải chích cho ông liều thuốc an thần cực mạnh dành cho những người rối loạn thần kinh, ông mới nằm im.
Baricco ngỏ lời xin lỗi chúng tôi thay cho ngài J. và bảo muốn tổ chức cho chúng tôi một lễ cưới để đền bù. Lời đề nghị của ông ta khiến tôi bật khóc. Tôi nhìn gương mặt râu ria hốc hác của Minh và thấy lòng tràn đầy tình yêu, tràn đầy ân hận. Nếu tôi không quá quắt, không chứng tỏ cái tôi của mình một cách thiếu suy nghĩ như những ngày vừa qua, tôi đã không rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm như thế này.
Minh chặn lời xin lỗi của tôi bằng một nụ hôn: “Đừng em. Chính anh mới là người có lỗi khi bỏ em lại một mình trong khách sạn đêm đó. Anh rất ân hận. May mà em được an toàn. Nếu không, chắc anh cũng khó lòng sống nổi”.
Đám cưới của chúng tôi là một đám cưới ấn tượng nhất trên đời – theo tôi nghĩ – do có cả cảnh sát lẫn mafia tham dự. Baricco còn mời cả những du khách có mặt tại quảng trường San Marco lúc ấy vào thánh đường dự lễ. Những ánh đèn flash máy ảnh đua nhau nháy trong những tiếng thì thầm thán phục. Khi chúng tôi bước ra khỏi thánh đường, một trận mưa hoa như trút xuống từ những tháp chuông cao ngất và lũ bồ câu bay lượn nhịp nhàng trong làn mưa nhiều màu sắc đó khiến tôi càng thêm ngây ngất.
Đứng giữa khoảng trời biển bao la xanh thẳm, tôi thầm nghĩ liệu mình và Minh có trở lại Venice lần nào nữa không sau biến cố này? Và Jean Paul nữa? Bao giờ thì ông có thể lành bệnh và quay về ngôi nhà chất chứa cả tình yêu khủng khiếp của ông?


