Halal và tiềm năng xuất khẩu sang thị trường các nước Hồi giáo
Các nước Hồi giáo là một trong những thị trường tiềm năng, nhưng còn đang bỏ ngỏ đối với doanh nghiệp Việt Nam, bởi doanh nghiệp muốn xuất khẩu sang thị trường này cần thực hiện nhiều điều kiện, trong đó cần được chứng nhận Halal (những quy định được phép sử dụng). Vì vậy, sự năng động và tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của các nước này sẽ là chìa khóa thành công của doanh nghiệp khi xuất khẩu.
![]() Nguồn: timnhanh.com |
Dân số Hồi giáo hiện vào khoảng 1,8 tỷ người trên 112 quốc gia, chiếm 25% dân số thế giới. Với tốc độ tăng trưởng dân số khoảng 2,9%/năm thì số dân Hồi giáo trên thế giới sẽ chiếm khoảng 30% dân số thế giới vào năm 2025. Đây là con số khá ấn tượng đối với ngành công nghiệp Halal thế giới. Diễn đàn Halal Thế giới đã công bố giá trị trao đổi thương mại toàn cầu tính riêng cho nhóm hàng thực phẩm Halal đạt khoảng 661 tỷ USD và nếu tính của nhóm sản phẩm phi thực phẩm và dịch vụ Halal khác thì con số này đạt từ 1.200 – 2.000 tỷ USD/năm. Đó là chưa kể đến số lượng lớn người tiêu dùng không phải là Hồi giáo khắp thế giới hiện cũng đang ưa chuộng sản phẩm Halal vì sự bảo đảm về tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh và chất lượng.
Theo Giám đốc Văn phòng Chứng nhận Halal tại Việt Nam Trần Xuân Giáp, hầu hết các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật và thủy hải sản đều là Halal. Trong khi đó, Việt Nam là nước có thế mạnh về sản phẩm nông nghiệp, vì vậy, tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hồi giáo là rất lớn. Hàng thủy sản Việt Nam dễ dàng thích hợp với thị trường này. Doanh nghiệp Việt Nam muốn tiếp cận thị trường Hồi giáo, trước hết cần hợp tác với các nước đông dân Hồi giáo như Malaysia, Indonesia hoặc có chứng nhận Halal.
Theo thống kê, thị trường thực phẩm Halal năm 2010 đạt 8,6 tỷ USD. Với tỷ lệ dân số đạo Hồi chiếm khoảng 68% và là nước nhập khẩu lương thực, tiềm năng thị trường Malayssia là rất lớn. Ngoài nhập khẩu để tiêu dùng trong nước, Malaysia còn nhập khẩu để tiếp tục gia tăng trị giá để xuất khẩu. Nhu cầu tiêu thụ thủy hải sản ở Malaysia tương đối lớn, khoảng hơn 60kg/người/năm. Hàng năm, Malaysia nhập khẩu trên 300.000 tấn hải sản các loại. Hơn nữa, các sản phẩm mang thương hiệu Halal của Malaysia được chấp nhận rộng rãi trên các thị trường lớn như Hoa Kỳ, châu Âu và Australia bên cạnh các thị trường Hồi giáo truyền thống khu vực châu Á. Do vậy, doanh nghiệp Việt Nam có thể cung cấp nguyên liệu, còn khâu chế biến do doanh nghiệp Malaysia thực hiện vì họ có kinh nghiệm trong chế biến thực phẩm Halal. Malaysia cũng cam kết mạnh mẽ chia sẻ kiến thức và kinh nghiệp cũng như tăng cường hợp tác với các nước khác vì mục tiêu phát triển công nghiệp Halal toàn cầu.
Halal được xem là giấy thông hành của sản phẩm cho người tiêu dùng Hồi giáo. Người Hồi giáo đi mua hàng thường khó xác định sản phẩm nào là Halal. Chính vì vậy, sử dụng logo chứng nhận Halal sẽ tạo niềm tin và bảo đảm cho người tiêu dùng Hồi giáo. Để được chứng nhận Halal, các doanh nghiệp có thể nộp đơn xin cấp chứng thư Halal và cam kết không vi phạm các hướng dẫn gửi đến Văn phòng Chứng nhận Halal tại Việt Nam, kèm theo hồ sơ gồm có danh mục sản phẩm xin chứng nhận Halal, bản sao công bố tiêu chuẩn chất lượng do ngành y tế - dự phòng cấp, quy trình và sơ đồ sản xuất các sản phẩm chứng nhận. Văn phòng Chứng nhận Halal tại Việt Nam sẽ tiến hành kiểm tra thực tế tại nơi sản xuất để xem xét, xác định sản phẩm được sản xuất chế biến trong những điều kiện phù hợp với các yêu cầu của Halal. Trong đó bao gồm cả khâu kiểm tra sản phẩm mẫu. Căn cứ vào báo cáo khảo sát thực tế mà Văn phòng sẽ xem xét cấp Halal và cho phép sử dụng logo Halal cho các sản phẩm đạt tiêu chuẩn và chứng nhận này có giá trị trong vòng 1 năm. Theo ông Trần Xuân Giáp, sau khi được cấp chứng nhận Halal, định kỳ 6 tháng hoặc có thể đột xuất Ban đại diện sẽ thực hiện kiểm tra doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp vi phạm những tiêu chuẩn Halal có thể bị thu hồi chứng nhận Halal bất cứ lúc nào. Khi hết hạn Halal, doanh nghiệp có nhu cầu phải tiếp tục xin cấp hiệu lực mới. Yêu cầu tiếp tục này phải thực hiện ít nhất 1 tháng trước khi hết hạn.
Các chuyên gia thị trường cũng lưu ý, doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu thực phẩm Halal nên phối hợp với doanh nghiệp nước ngoài trong việc chế biến và đóng gói trước khi có ý định khai thác thị trường thực phẩm Halal thế giới. Doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu thực phẩm, nhất là sang thị trường Malaysia phải có giấy chứng nhận y tế của nước đó. Sản phẩm phải có dán nhãn bằng tiếng Anh hoặc tiếng Malaysia và trong nhãn phải có đầy đủ các thông tin theo quy định. Với thực tế là tỷ lệ nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu, trong đó nhập khẩu về thực phẩm chiếm tỷ trọng cao nên đây là cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm hiểu, khai thác những khoảng trống để tiếp cận thị trường đầy tiềm năng này.


