Gỡ rào cản đầu tư nhưng không để phát sinh khoảng trống quản lý
Thảo luận tại Tổ 7 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Nghệ An, Lâm Đồng) chiều 3/8 về sửa đổi Luật Đầu tư và cơ chế, chính sách đặc thù phục vụ APEC 2027, các đại biểu đề nghị việc cắt giảm điều kiện kinh doanh phải thực chất, không làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước; đồng thời phải xác định rõ phạm vi áp dụng, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm của các chủ thể.
Cắt giảm điều kiện kinh doanh phải thực chất, hậu kiểm phải đủ năng lực
Liên quan đến đề xuất đưa kinh doanh nước sạch ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, ĐBQH Thái Thị An Chung (Nghệ An) cơ bản đồng tình với dự thảo nhưng bày tỏ băn khoăn về nội dung này.
Nước sạch là sản phẩm thiết yếu, tác động đến sức khỏe của toàn dân. Một sai sót trong quá trình xử lý nước hoặc vận hành hệ thống có thể gây hậu quả trên diện rộng đối với sức khỏe người dân.

Đối chiếu với Điều 7 Luật Đầu tư, những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là những ngành, nghề có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và cộng đồng. Như vậy, hoạt động liên quan đến sức khỏe cộng đồng phải được xác định là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Kinh doanh nước sạch có tính chất độc quyền. Hiện nay, về cơ bản mỗi địa phương chỉ có một hệ thống cấp nước tập trung, trong khi người dân có rất ít cơ hội lựa chọn nhà cung cấp khác. Vì vậy, nếu không đặt ra yêu cầu tối thiểu về năng lực kỹ thuật và khả năng vận hành của doanh nghiệp thì sẽ rất khó bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Hệ thống cấp nước thuộc hạ tầng thiết yếu. Doanh nghiệp phải có khả năng bảo vệ nguồn nước, ứng phó với sự cố và duy trì việc cấp nước trong những trường hợp như thiên tai, dịch bệnh.
“Đây không chỉ là vấn đề cấp nước thông thường mà còn là vấn đề an ninh nguồn nước. An ninh nguồn nước là một phần của an ninh quốc gia. Vì vậy, kinh doanh nước sạch phải là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”, đại biểu nhấn mạnh.
Theo đại biểu, trong giai đoạn hiện nay chưa thể chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với lĩnh vực này. Năng lực giám sát chất lượng nước trực tuyến chưa đáp ứng yêu cầu; việc kiểm định các thiết bị xét nghiệm hiện nay cũng còn yếu. Vì vậy, vẫn nên tiếp tục duy trì kinh doanh nước sạch là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Qua tham khảo kinh nghiệm của một số nước, nhất là Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc, đại biểu nhận thấy các nước đều có cơ chế cấp phép và kiểm soát rất nghiêm ngặt đối với hoạt động kinh doanh nước sạch.
Vì vậy, đại biểu cho rằng trong giai đoạn hiện nay, kinh doanh nước sạch vẫn nên được xác định là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, chưa nên đưa ra khỏi danh mục.

Cũng góp ý về việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, ĐBQH Vũ Thị Lan Anh (Nghệ An) cho rằng việc cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm là cần thiết nhưng phải bảo đảm không làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước.
Khoản 3 Điều 5 dự thảo Luật mới giao chung cho các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, quy định giải pháp, phương án quản lý thay thế nhưng chưa xác định thời hạn thực hiện, cơ chế kỹ thuật, chế độ báo cáo và cơ chế chịu trách nhiệm.
Đại biểu đề nghị quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong việc xây dựng tiêu chí hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro; công khai kết quả thanh tra, kiểm tra vi phạm; định kỳ báo cáo Chính phủ và các cơ quan của Quốc hội về kết quả thực hiện. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát việc ban hành các quy định chi tiết, bảo đảm không tái lập điều kiện kinh doanh, giấy phép hoặc thủ tục hành chính đã được bãi bỏ dưới bất kỳ hình thức nào khác.
Đại biểu cũng đề nghị việc chuyển sang hậu kiểm phải gắn thẩm quyền với trách nhiệm và nguồn lực thực hiện. Cần phân định rõ trách nhiệm giữa bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương đối với các ngành, nghề được bãi bỏ hoặc sửa đổi điều kiện kinh doanh.
Theo đại biểu, cơ chế hậu kiểm phải gắn với trách nhiệm, nguồn lực, khả năng dự báo và dữ liệu, tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng kiểm tra một nội dung.
Dự thảo cũng cần quy định nguyên tắc xây dựng phương án quản lý thay thế, phạm vi nội dung được quy định chi tiết và trách nhiệm của cơ quan được giao; không để việc phân cấp, phân quyền trở thành căn cứ làm phát sinh thêm giấy phép, giấy xác nhận điều kiện hoặc thủ tục hành chính ngoài quy định của Luật.

ĐBQH Nguyễn Trường Giang (Lâm Đồng) cho rằng: việc đưa một ngành, nghề ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải được thực hiện thực chất, không chỉ bỏ tên khỏi Phụ lục IV nhưng vẫn duy trì các “giấy phép con” hoặc những điều kiện cốt lõi dưới hình thức khác, tiếp tục tạo rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Đại biểu đề nghị tiếp tục giữ hoạt động kinh doanh thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên trong Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, bởi loại thiết bị này chỉ được sử dụng đối với một số phương tiện theo quy định và cần được quản lý chặt chẽ.
Đối với dịch vụ thu nhận thông tin phục vụ cấp thị thực, đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ việc xác định đây là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Pháp luật hiện hành đã có quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, do đó cần làm rõ sự cần thiết và căn cứ của việc bổ sung thêm điều kiện kinh doanh đối với loại hình dịch vụ này.
ĐBQH Phạm Đức Hoài (Lâm Đồng) đề nghị Chính phủ làm rõ cơ sở thực tiễn và căn cứ pháp lý của đề xuất bổ sung một ngành, nghề kinh doanh dịch vụ của nhà đầu tư nước ngoài vào Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Theo đại biểu, đây là chính sách mới, làm phát sinh thêm một ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Trong bối cảnh đang đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cần đánh giá liệu quy định này có tạo thêm rào cản hay không, đồng thời bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn.
Liên quan đến kinh doanh thiết bị, phương tiện không người lái và thiết bị phát tín hiệu, đại biểu cho rằng đây là những nội dung liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh. Vì vậy, cần được đánh giá đầy đủ, bảo đảm chặt chẽ, khoa học và đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh. Pháp luật về tần số vô tuyến điện cũng đã có những quy định bổ sung đầy đủ, toàn diện hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với phương tiện, thiết bị không người lái.
Cơ chế đặc thù phục vụ APEC 2027 phải rõ phạm vi, chặt trách nhiệm
Góp ý về Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027, ĐBQH Nguyễn Trường Giang thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai các dự án, công trình phục vụ Hội nghị APEC.
.jpg)
Liên quan đến thời hạn thực hiện Nghị quyết, đại biểu không đồng tình với quy định Nghị quyết được thực hiện trong thời hạn 5 năm kể từ ngày có hiệu lực.
Theo đại biểu, các công trình, dự án được áp dụng cơ chế đặc thù là những dự án đã khởi công trong khoảng thời gian được xác định và được phép áp dụng hiệu lực trở về trước. Nếu tiếp tục quy định Nghị quyết chỉ có hiệu lực trong 5 năm thì có thể hạn chế việc xử lý các công trình, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bỏ quy định về thời hạn 5 năm.
Đại biểu Vũ Thị Lan Anh cũng tập trung góp ý đối với cơ chế xử lý vướng mắc trong khai thác, thu hồi khoáng sản tại Điều 4 và cơ chế xử lý vướng mắc đối với dự án, công trình thi công xây dựng chưa hoàn thiện thủ tục tại Điều 8.
Theo Điều 4, trường hợp tổ chức, cá nhân khai thác, thu hồi khoáng sản mà đến ngày Nghị quyết có hiệu lực thi hành chưa được cấp giấy phép khai thác khoáng sản, giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản, đã dừng hoạt động và không còn nhu cầu khai thác, thu hồi khoáng sản thì không phải thực hiện việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản, giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản.
“Đây là quy định tích cực, có tác dụng thúc đẩy tiến độ tổng thể của dự án, đồng thời giải tỏa tâm lý e ngại của chính quyền địa phương và doanh nghiệp đối với những vấn đề đã phát sinh, qua đó góp phần bảo đảm tính khả thi của công trình”, đại biểu đánh giá.
_watermarked(1).jpg)
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng: quy định này có thể tạo ra khoảng trống pháp lý trong cơ chế kiểm soát tài nguyên và xử lý hệ lụy môi trường sau khai thác. Việc cho phép không phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép có thể tạo kẽ hở để nhà đầu tư rút lui mà không thực hiện thủ tục đóng cửa mỏ theo quy định của pháp luật về khoáng sản. Hệ quả có thể dẫn đến tình trạng địa hình mất ổn định, phát sinh nguy cơ sạt lở nghiêm trọng, nhất là vào mùa mưa, lũ.
Vì vậy, đại biểu đề nghị có quy định chặt chẽ nhằm ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư, đồng thời hạn chế nguy cơ gian lận về khối lượng khoáng sản và thất thu thuế cho địa phương cũng như Nhà nước.
Đối với Điều 8, dự thảo quy định các công trình thuộc phạm vi điều chỉnh được áp dụng cơ chế đặc thù chuyển tiếp nhằm tháo gỡ áp lực về thời gian. Cụ thể, khoản 1 cho phép dự án tiếp tục thi công trên cơ sở hồ sơ thiết kế do nhà đầu tư đề xuất; khoản 2 và khoản 3 phân cấp cho UBND tỉnh phê duyệt việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, công nghệ mới; khoản 5 cho phép địa phương thành lập hội đồng nghiệm thu cấp tỉnh để đưa công trình vào vận hành, hoạt động.
Đại biểu cho rằng các quy định này có tính khả thi cao, góp phần bảo đảm tiến độ, loại bỏ nguy cơ đình chỉ thi công do thiếu giấy phép và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục từ 6 tháng xuống còn 3 tháng.
Tuy nhiên, đại biểu lưu ý cơ chế này cũng có thể phát sinh rủi ro bị lợi dụng, nhất là đối với các dự án BT. Việc giao nhà đầu tư tự lập, tự phê duyệt thiết kế và dự toán xây dựng có thể tạo sơ hở trong việc kiểm soát giá trị dự án. Đối với dự án BT, giá trị công trình càng cao thì quỹ đất công Nhà nước phải thanh toán đối ứng càng lớn.
Theo đại biểu, quy định này có thể đặt nhà đầu tư vào tình thế “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Vì vậy, cần có quy định chặt chẽ hơn đối với việc cho phép thi công trên cơ sở hồ sơ do nhà đầu tư đề xuất, tránh để cơ quan quản lý nhà nước rơi vào tình thế “chuyện đã rồi” khi phát hiện sai phạm.
Đại biểu đề nghị quy định giá trị xây dựng được phê duyệt không được vượt quá giá trị dự toán đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng cấp tỉnh thẩm định; giá trị thẩm định của cơ quan nhà nước phải là căn cứ pháp lý để triển khai thực hiện.
Theo đại biểu, quy định này vừa bảo đảm tính khả thi của công trình, vừa hạn chế rủi ro đối với cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình hậu kiểm. Nếu công trình đã hoàn thành mới phát hiện sai phạm thì việc tháo gỡ, xử lý sẽ rất khó khăn.
_watermarked(1).jpg)
Cũng góp ý về phạm vi áp dụng Nghị quyết, ĐBQH Phạm Đức Hoài cho rằng giữa Điều 3 của dự thảo Nghị quyết và Phụ lục kèm theo Tờ trình số 436 của Chính phủ chưa có sự thống nhất.
Điều 3 quy định ba nhóm dự án, công trình được áp dụng Nghị quyết. Trong khi đó, Phụ lục kèm theo Tờ trình, ngoài các nhóm nêu trên, còn liệt kê nhóm dự án phục vụ Hội nghị APEC ngoài Quyết định số 948, trong đó có nhóm “các dự án khác”.
Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo rà soát, làm rõ mối quan hệ giữa quy định tại Điều 3 và danh mục dự án, công trình tại Phụ lục; bảo đảm thống nhất nội dung trong hồ sơ trình, xác định rõ phạm vi áp dụng và tránh phát sinh những cách hiểu khác nhau trong quá trình giám sát, đối chiếu.

