Giảm thuế phải thực sự đi vào dòng tiền doanh nghiệp
Ủng hộ chủ trương giảm thuế cho hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp trong hai năm 2026 - 2027, ĐBQH Nguyễn Duy Thanh (Cà Mau) đề nghị chính sách giảm thuế phải thực sự đi vào dòng tiền, tạo nguồn lực để hộ kinh doanh, doanh nghiệp đầu tư, mở rộng hoạt động.

Tránh “điểm gãy” khi doanh thu vượt 10 tỷ đồng
Cho ý kiến tại phiên thảo luận ở Tổ 8 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Cà Mau và Bắc Ninh) chiều 21/8 về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp, các đại biểu cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết, đồng thời ủng hộ chủ trương giảm thuế cho hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp trong hai năm 2026 - 2027.
Theo ĐBQH Nguyễn Duy Thanh (Cà Mau), điều quan trọng là chính sách phải thực sự đi vào dòng tiền của người kinh doanh, tạo động lực để họ đầu tư, mở rộng hoạt động và lớn lên.
Nhấn mạnh như vậy, đại biểu cho rằng, cần xử lý hợp lý ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng, tránh tạo một “điểm gãy” về nghĩa vụ thuế và vô tình khuyến khích doanh nghiệp giữ quy mô nhỏ.

Theo dự thảo, doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng sẽ được giảm 30% số thuế phải nộp; vượt ngưỡng này thì không được hưởng chính sách. Trong khi đó, theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, doanh nghiệp có doanh thu từ 3 - 50 tỷ đồng áp dụng thuế suất 17%. Như vậy, trong nhóm này nếu được giảm 30% số thuế phải nộp thì mức thuế thực tế tương đương khoảng 11,9%; nhưng nếu doanh thu vượt 10 tỷ đồng một mức nhỏ thì lại trở về mức 17%.
Quy mô hoạt động có thể gần như không thay đổi, nhưng nghĩa vụ thuế thay đổi tương đối lớn. Trong thực tế, doanh thu 10 tỷ đồng cũng có ý nghĩa rất khác nhau giữa các ngành. Một doanh nghiệp thương mại, phân phối có thể đạt doanh thu khá lớn nhưng biên lợi nhuận rất thấp; trong khi một doanh nghiệp dịch vụ cùng mức doanh thu có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều.
Từ phân tích trên, đại biểu Nguyễn Duy Thanh đề nghị Chính phủ làm rõ hơn cơ sở lựa chọn ngưỡng 10 tỷ đồng và tính toán cơ chế chuyển tiếp đối với trường hợp vượt ngưỡng, để doanh nghiệp không mất ngay toàn bộ mức giảm thuế chỉ vì doanh thu tăng thêm một phần nhỏ.
“Điều này còn có ý nghĩa chống trục lợi. Nếu lợi ích ở hai phía của ngưỡng quá chênh lệch thì có thể xuất hiện động cơ chia nhỏ hoạt động kinh doanh, tách doanh thu hoặc thành lập thêm pháp nhân để tiếp tục được hưởng chính sách”, đại biểu nói.
Giảm thuế cần được đặt song song với giảm chi phí tuân thủ
Cũng theo đại biểu Nguyễn Duy Thanh, cần nhìn đúng một khó khăn thực tế của hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ hiện nay là chi phí tuân thủ đang trở thành gánh nặng đáng kể.
Theo báo cáo thẩm tra, khó khăn liên quan đến pháp lý và chi phí tuân thủ của hộ, cá nhân kinh doanh chiếm tỷ lệ rất cao. Các chi phí này bao gồm kế toán, thuế, hóa đơn, phần mềm, bảo hiểm xã hội và việc đáp ứng các yêu cầu quản lý mới. Điều này càng đáng lưu ý trong năm 2026, khi hộ kinh doanh đã chuyển khỏi phương pháp thuế khoán và thực hiện quản lý thuế theo phương thức mới.

Nghị quyết số 198/2025/QH15 cũng đã đặt yêu cầu giảm ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật, đồng thời có chính sách hỗ trợ nền tảng số, phần mềm kế toán cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh.
Vì vậy, đại biểu Nguyễn Duy Thanh cho rằng, việc giảm 30% thuế cần được đặt song song với mục tiêu giảm thực chất 30% chi phí tuân thủ.
“Khi triển khai Nghị quyết cần thiết kế theo hướng đơn giản nhất: cơ quan thuế xác định điều kiện hưởng trên cơ sở dữ liệu đã có; hạn chế tối đa hồ sơ, thủ tục riêng để xin giảm; dữ liệu Nhà nước đã nắm được thì người dân, doanh nghiệp không phải kê khai lại”, đại biểu Nguyễn Duy Thanh đề nghị.
Cùng với đó, cần bảo đảm khoản thuế được giảm thực sự ở lại trong dòng tiền của doanh nghiệp, thay vì nộp trước rồi xử lý sau. Bởi đối với doanh nghiệp nhỏ, khó khăn lớn hiện nay là dòng tiền và vốn lưu động, nên thời điểm được hưởng hỗ trợ có ý nghĩa gần như mức hỗ trợ.
Ví dụ, một doanh nghiệp được giảm 100 triệu đồng tiền thuế, nếu được giữ lại ngay trong năm, doanh nghiệp có thể sử dụng để trả lương, nhập hàng, thanh toán lãi vay hoặc bổ sung vốn lưu động. Ngược lại, nếu vẫn phải tạm nộp trước rồi đến cuối năm mới quyết toán, bù trừ hoặc hoàn lại thì giá trị hỗ trợ về dòng tiền sẽ giảm đáng kể, đại biểu Nguyễn Duy Thanh phân tích.
Nghiên cứu kỹ để có chính sách tác động toàn diện
Bày tỏ nhất trí với chính sách, song ĐBQH Trần Văn Lâm (Bắc Ninh) băn khoăn về tính hiệu quả. Theo đại biểu, hiện nay hoạt động sản xuất, kinh doanh rất khó khăn, lợi nhuận không đáng bao nhiêu.

Với các hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp, dù có lỗ vẫn phải nộp thuế, bởi thuế được tính trực tiếp trên doanh thu, không còn thuế khoán. Cứ phát sinh doanh thu là sẽ xác định được mức thuế phải nộp. Vì vậy, giảm 30% chắc chắn sẽ giảm số thuế phải nộp, tức hộ kinh doanh được hưởng chính sách là hợp lý.
Song, với doanh nghiệp, có lãi mới phải nộp thuế. Trong khi hiện nay, rất đông doanh nghiệp không có lãi, thậm chí bị lỗ. “Họ là những đối tượng cần quan tâm hỗ trợ nhất”, đại biểu nói. Tuy nhiên, chính sách này lại không tác động đến nhóm khó khăn nhất trong khối doanh nghiệp.
Theo đại biểu, đây là điểm chưa hợp lý của chính sách: những doanh nghiệp nhỏ và vừa đang kinh doanh bị lỗ, không có lãi thì không được hưởng lợi từ chính sách; trong khi doanh nghiệp càng có nhiều lợi nhuận thì lợi ích từ chính sách càng lớn. “Đây là một tác động có lẽ chưa thực sự toàn diện của chính sách này”, đại biểu nhận định.
Từ đó, đại biểu cho rằng, các cơ quan xây dựng chính sách cần nghiên cứu để chính sách có tác động tương đối toàn diện, bao trùm đến khối doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, có thể sử dụng đến công cụ thuế giá trị gia tăng vì tất cả doanh nghiệp kinh doanh có doanh thu đều phát sinh thuế này; cũng có thể giãn nộp thuế như chúng ta đã từng áp dụng, đại biểu Trần Văn Lâm gợi ý.

