Chính trị

Giám sát toàn bộ quá trình thực hiện dự án điện

Hoàng Ngọc • 03/11/2026 17:52

Chiều 3/11, tiếp tục Kỳ họp thứ Hai, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên họpVQK_4657
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Xây dựng khung giá phát điện kịp thời, khách quan

Nêu thực tế Quy hoạch điện VIII được phê duyệt năm 2023, điều chỉnh năm 2025 nhưng triển khai đến nay còn rất chậm, ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình (Hưng Yên) cho biết, sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 253/2025/QH15 cuối năm 2025, sang năm 2026 nhiều địa phương mới bắt đầu lựa chọn nhà đầu tư. Hai đến ba năm đã trôi qua, nhưng nhiều dự án bổ sung mới vẫn chưa thể đi vào vận hành.

Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình đề nghị cần ràng buộc trách nhiệm và giám sát tiến độ toàn bộ quá trình thực hiện dự án điện.

Theo đại biểu, việc quy định nhà đầu tư phải bảo đảm tiến độ là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, chọn được nhà đầu tư chưa đồng nghĩa ký được hợp đồng mua bán điện, thu xếp được vốn; xây dựng xong vẫn có thể phải chờ lưới giải tỏa, nghiệm thu và vận hành thương mại. Mỗi khâu chậm vài tháng, cả dự án có thể chậm hàng năm.

ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình (Hưng Yên)
ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình (Hưng Yên) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh

Do vậy, cần bổ sung tại Điều 12, Điều 13 cơ chế giám sát tiến độ liên thông, có đầu mối tại UBND cấp tỉnh, phối hợp với Bộ Công Thương, EVN và các đơn vị liên quan.

Đại biểu nhấn mạnh, “mỗi dự án phải có kế hoạch chung, xác định trách nhiệm, thời hạn từ thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thỏa thuận đấu nối, đàm phán PPA đến nghiệm thu, vận hành thương mại. Chính phủ quy định thời hạn xử lý hồ sơ, các mốc đàm phán, trách nhiệm giải trình và xử lý quá hạn, phân định rõ nguyên nhân chậm tiến độ của từng bên”.

Tại khoản 5a Điều 10, đại biểu đề nghị gắn danh mục nguồn điện với các công trình lưới cần thiết để giải tỏa công suất; xác định rõ chủ đầu tư lưới, trách nhiệm của EVN và đơn vị liên quan, thời hạn hoàn thành trước hoặc đồng thời với nguồn điện, bảo đảm nhà máy có thể vận hành đúng tiến độ.

Các đại biểu tham dự phiên họp
Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Lưu ý, khi xây dựng phương án khung giá năm 2026, EVN sử dụng thông số dự án mẫu có báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt từ năm 2023, trước khi Luật Đất đai mới ban hành. Trong khi đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ mới làm tăng đáng kể chi phí giải phóng mặt bằng, hỗ trợ hạn chế sử dụng đất trong hành lang cánh tua-bin gió và tổng mức đầu tư, đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình cho biết, nếu giữ nguyên dữ liệu cũ, khung giá sẽ không phản ánh đúng điều kiện đầu tư hiện nay.

Đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 3, Điều 51 nguyên tắc cập nhật dữ liệu theo năm áp dụng, công nghệ và địa bàn, tính đầy đủ chi phí hợp lý, hợp lệ, đặc biệt các nghĩa vụ đất đai. Chính phủ quy định phương pháp cập nhật, xử lý biến động chi phí do thay đổi chính sách và kiểm soát việc tính trùng.

Đại biểu cho rằng, “phương án khung giá cần do đơn vị có năng lực, độc lập với lợi ích thương mại của bên mua điện xây dựng; EVN cung cấp dữ liệu, Bộ Công Thương tổ chức thẩm định, phê duyệt. Khung giá hằng năm phải công bố chậm nhất trong quý I, kèm cơ chế chuyển tiếp nếu chưa ban hành khung mới”.

Thu hút đầu tư phát triển điện gió ngoài khơi

Đề xuất khai thác tối đa phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất điện, đặc biệt là rơm, rạ, ĐBQH Đoàn Hùng Vũ (Đồng Tháp) cho biết, Luật Bảo vệ môi trường đã quy định phụ phẩm nông nghiệp phải được thu gom để làm nguyên liệu, nhiên liệu sản xuất năng lượng, không được đốt ngoài trời, gây ô nhiễm.

ĐBQH Đoàn Hùng Vũ (Đồng Tháp) phát biểu
ĐBQH Đoàn Hùng Vũ (Đồng Tháp) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy

Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng yêu cầu khai thác tối đa nguồn điện sinh khối và cho phép các nguồn điện sinh khối, rác thải phát triển không bị giới hạn bởi quy mô quy hoạch.

Tuy nhiên, dự thảo Luật mới chỉ nêu cơ chế đặc thù cho phát triển điện rác mà chưa có cơ chế giá cho điện sinh khối, và giao Chính phủ quyết định theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

Đại biểu Đoàn Hùng Vũ nhấn mạnh, nếu chính sách chưa rõ ràng thì nhà đầu tư sẽ không yên tâm đầu tư sản xuất điện từ phụ phẩm nông nghiệp; còn nông dân thì không được đốt rơm nhưng vẫn còn một lượng lớn rơm không có thị trường để bán.

Vì vậy, đại biểu Đoàn Hùng Vũ đề nghị bổ sung cụm từ "điện sinh khối, khí sinh học sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi" bên cạnh điện rác và hưởng cơ chế đặc thù như điện rác, luật hóa ngay tại luật nguyên tắc giá điện phản ánh đủ chi phí thu gom nhiên liệu, có thành phần giá nhiên liệu được điều chỉnh theo biến động thực tế và ổn định trong suốt thời hạn hợp đồng mua bán điện.

Dành sự quan tâm đến cơ chế, chính sách phát triển điện gió ngoài khơi, ĐBQH Trần Văn Tuấn (Bắc Ninh) nêu rõ, điện gió ngoài khơi là lĩnh vực có tiềm năng lớn nhưng cũng là loại hình đầu tư đặc biệt phức tạp, đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, thời gian chuẩn bị và thu hồi vốn dài, công nghệ cao và phụ thuộc nhiều vào nhà thầu thiết bị, dịch vụ kỹ thuật quốc tế.

ĐBQH Trần Văn Tuấn (TP. Bắc Ninh)
ĐBQH Trần Văn Tuấn (TP. Bắc Ninh) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy

Đại biểu Trần Văn Tuấn cho biết, nhà đầu tư phải đối mặt với hàng loạt rủi ro: chi phí khảo sát địa chất, địa hình và điều kiện khí tượng hải văn rất lớn; thủ tục khảo sát, giao khu vực biển, chấp thuận chủ trương đầu tư và các thủ tục liên quan phức tạp; hạ tầng cảng biển, truyền tải điện và đấu nối chưa đồng bộ; rủi ro về biến động tỷ giá, lãi suất, giá thiết bị và chi phí xây dựng; đặc biệt nhà đầu tư khó dự báo khả năng huy động và tiêu thụ điện trong suốt thời gian vận hành dự án.

Do đó, để thu hút đầu tư phát triển điện gió ngoài khơi, Luật Điện lực hiện hành đã quy định các dự án điện gió ngoài khơi được hưởng một số cơ chế ưu đãi. Đáng lưu ý, dự án điện gió ngoài khơi được hưởng cơ chế sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn đối với dự án bán điện lên hệ thống điện quốc gia.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, vấn đề không chỉ là quy định tỷ lệ sản lượng điện hợp đồng tối thiểu mà quan trọng hơn là phải xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm mua điện, trách nhiệm thanh toán và trách nhiệm chia sẻ rủi ro khi dự án không được huy động điện do nguyên nhân khách quan.

Thực tế, một dự án điện gió ngoài khơi có thể đã hoàn thành đầu tư, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, đã sẵn sàng phát điện nhưng vẫn không thể phát hết công suất do chậm tiến độ đường dây truyền tải, quá tải lưới điện hoặc hạn chế trong vận hành hệ thống. Nếu toàn bộ rủi ro này đều chuyển cho nhà đầu tư thì cam kết sản lượng điện hợp đồng tối thiểu sẽ giảm đáng kể ý nghĩa.

Các đại biểu tham dự phiên họp
Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Khánh Duy

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 3 Điều 26 một quy định theo hướng: Đối với dự án điện gió ngoài khơi bán điện lên hệ thống điện quốc gia, bên mua điện được cơ quan có thẩm quyền chỉ định có trách nhiệm đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán điện bảo đảm sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn theo tỷ lệ và thời hạn do Chính phủ quy định.

Trường hợp dự án đã hoàn thành, đáp ứng điều kiện kỹ thuật và sẵn sàng phát điện nhưng không được huy động hoặc phải giảm công suất do nguyên nhân từ hệ thống truyền tải, hoặc nguyên nhân từ bên mua điện, hoặc nguyên nhân khách quan khác không do lỗi của nhà đầu tư thì phải có cơ chế thanh toán bù đắp chi phí hoặc chia sẻ rủi ro trong hợp đồng mua bán điện theo quy định của Chính phủ.

Đại biểu nhấn mạnh, đây không phải là đề xuất buộc Nhà nước hoặc Tập đoàn Điện lực Việt Nam phải mua điện bằng mọi giá bất kể nhu cầu hay khả năng vận hành hệ thống, cũng không phải là cam kết thanh toán cho sản lượng điện mà dự án không có khả năng phát ra do thiếu gió hoặc do lỗi của chủ đầu tư. Điều cần thiết là phải phân định rõ rủi ro thuộc trách nhiệm của nhà đầu tư và rủi ro thuộc trách nhiệm của hệ thống điện, bên mua điện hoặc cơ quan nhà nước; có như vậy mới bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư, Nhà nước và người sử dụng điện.

Đại biểu cũng kiến nghị cần quy định cụ thể hơn về nội dung hợp đồng mua bán điện tại Điều 44 đối với dự án điện gió ngoài khơi, bảo đảm phải có các nội dung cơ bản sau: sản lượng điện hợp đồng tối thiểu và thời hạn áp dụng; trách nhiệm mua và thanh toán của bên mua điện; cơ chế xử lý khi dự án bị cắt giảm công suất không do lỗi của nhà đầu tư; nguyên tắc điều chỉnh giá trong trường hợp biến động lớn về tỷ giá, lãi suất và chi phí đầu vào; cơ chế bảo đảm thanh toán, xử lý vi phạm, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.

    Giám sát toàn bộ quá trình thực hiện dự án điện
    • Mặc định