Giải pháp cốt lõi trong phục hồi, phát triển môi trường đất bền vững
Thực tế, dù đất được sử dụng cho mục đích nông nghiệp hay phi nông nghiệp cũng đều bị ô nhiễm ở mức độ nhất định. Do đó nếu không có những giải pháp công nghệ và quản lý chất lượng môi trường đất sẽ bị suy giảm đến mức báo động và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân.
Đánh giá về các chính sách bảo vệ môi trường đất và các biện pháp phục hồi đất, cũng như công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng đất, ông Nguyễn Quang Huân, đại biểu Quốc hội Khóa XV cho rằng, còn nhiều vấn đề cần nhìn nhận.
Thứ nhất, Luật Bảo vệ môi trường đã có phần nội dung về ô nhiễm đất nhưng chưa đủ mạnh. Ví dụ như những điều cấm để gây ô nhiễm chúng ta chưa nêu ra một cách quyết liệt. Khi không nêu những điều cấm, quá trình thực hiện sẽ dẫn tới ảnh hưởng trong việc đưa ra các chế tài, do thiếu cơ sở pháp luật, gây khó khăn cho các cơ quan thực hiện.
Thứ hai, công tác thanh tra, kiểm tra vẫn còn mang nặng cảm tính. “Làm công tác môi trường mà chúng ta chỉ để cho những người thực thi về công tác môi trường thôi thì không xử lý được, nó phải là vấn đề tổng thể của địa phương. Phải đưa ra chính sách tổng thể về công ăn việc làm, về phục hồi kinh tế, về kế sinh nhai để đảm bảo cho người dân”, đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Huân nhận định.

Thứ ba, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban, ngành và sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học.
Trong đó, các nhà kinh tế phải tìm ra giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp cho những người dân đang vi phạm về môi trường, các nhà khoa học, công nghệ và chính quyền, các bộ, ban, ngành, các cơ quan quản lý nhà nước cũng có thể hướng dẫn cho người dân các công nghệ hiện đại để cải thiện sản xuất, kinh doanh.
"Hiện nay, quá trình chế tạo, tái chế hạt nhựa rất ô nhiễm. Vậy phải hướng dẫn cho người dân những công nghệ ít ô nhiễm hơn mà vẫn tái chế được hiệu quả. Đất đang bị ô nhiễm nặng nề do đó cần những giải pháp song hành với nhau để giải quyết tình trạng này tốt hơn", đại biểu Nguyễn Quang Huân nhấn mạnh.

Kiến nghị nhóm giải pháp cốt lõi để xây dựng hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn gắn liền với đất, biến chất thải thành nguồn vật liệu cải tạo đất an toàn, theo TS. Nguyễn Đăng Nghĩa, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu đất, phân bón và môi trường phía Nam, các luật liên quan đến đất đai, môi trường, trồng trọt hiện nay đã được ban hành. Tuy nhiên vấn đề giám sát và chế tài mới là điều quan trọng.
Trong nông nghiệp, lượng mùn thải vẫn còn rất lớn nhưng chưa được quản lý chặt chẽ, dù đã có nhiều đề tài cần thiết, song việc chuyển hóa những kết quả đó thành mô hình nông nghiệp tuần hoàn vẫn còn chậm.
Trên thực tế, “chất thải” trong nông nghiệp phần lớn chính là phụ phẩm. Theo thống kê, Việt Nam có khoảng gần 15 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp mỗi năm, trong khi chúng ta lại đang thiếu nguồn phân hữu cơ. Nếu được chuyển hóa, cải tạo đúng cách, chất lượng nông sản sẽ được nâng lên rõ rệt, thay vì chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu.
Bên cạnh đó, các tổ chức như Hội Nông nghiệp tuần hoàn, Hội Nông nghiệp hữu cơ cần siết chặt hơn nữa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Khi nông dân chưa được hướng dẫn cụ thể, họ thường chọn giải pháp nhanh, phun thuốc theo thói quen, chỉ phun thuốc trước 14 ngày mà chưa quan tâm đầy đủ đến yếu tố an toàn. Đối với phụ phẩm, nhiều nơi vẫn đốt bỏ dẫn đến vi phạm quy định về chất thải và phát sinh khí thải gây ô nhiễm môi trường.
“Tôi mong Quốc hội, dư luận xã hội và báo chí tiếp tục vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa. Vai trò giám sát, phản biện của báo chí và tiếng nói của dư luận có ý nghĩa rất quan trọng, bởi thực tế cho thấy không ít cơ quan quản lý vẫn còn tâm lý e dè trong xử lý các vấn đề tồn tại kéo dài”, TS. Nguyễn Đăng Nghĩa chia sẻ.

Tham gia đóng góp ý kiến về áp dụng trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong việc thu hồi và xử lý chất thải, từ đó giảm thiểu ô nhiễm đất, PGS. TS Trương Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường Việt Nam nhấn mạnh việc thực hiện kế hoạch trách nhiệm mở rộng của các nhà sản xuất không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà nó còn là chìa khoá để bảo vệ sức khỏe của đất và hệ sinh thái.
Trước hết, nhà sản xuất cần quan tâm đến vấn đề về thiết kế sản phẩm và bao bì bền vững. Khi tập trung vào các công dụng của hóa chất, nhà sản xuất cần thay đổi tư duy khi thiết kế, làm sao giảm vật liệu, tối ưu hóa kích thước bao bì, sử dụng vật liệu mỏng hơn nhưng vẫn đảm bảo độ bền, hạn chế dùng nhiều lớp nhựa khác nhau gây khó khăn cho tái chế.
Nguyên vật liệu phải dễ tái chế, tái ưu tiên sử dụng nhựa đơn lớp để vật liệu có khả năng phân hủy sinh học trong điều kiện có kiểm soát. Bao bì để sử dụng lại cần thiết kế các hệ thống bình chứa lớn có thể tái sử dụng nhiều lần, cung cấp trạm nạp hóa chất để giảm lượng chai lọ nhỏ dùng một lần.
Thiết lập hệ thống thu hồi và ký gửi, đây là mắt xích quan trọng để ngăn chặn vỏ chai thuốc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ trực tiếp ngay trên đồng ruộng, mạng lưới thu gom phải được thiết lập tại đại lý bán lẻ của nông dân, nhà sản xuất chịu chi phí vận chuyển từ các điểm này về xử lý, qua đó nâng cao trách nhiệm của nhà sản xuất.
Hệ thống kí gửi (hoàn trả) phải áp dụng, thu thêm một khoản phí nhỏ khi khách hàng mua sản phẩm và sẽ hoàn trả lại số tiền này khi họ mang vỏ chai cũ đến để trả lại cho đại lý.
“Tôi nghĩ chúng ta rất cần hình thành các liên minh về tái chế, các doanh nghiệp phối hợp với nhau để cùng thành lập các tổ chức thực hiện có trách nhiệm đối với nhà sản xuất, chuyên trách việc thu gom và xử lý rác thải có nguy hại một cách chuyên nghiệp”, PGS. TS Trương Mạnh Tiến đề xuất.

Đối với xử lý, cố gắng tái chế đúng quy định, đúng quy chuẩn, đặc biệt là với vỏ chai lọ đựng hóa chất, thuốc trừ sâu - nhóm chất thải nguy hại. Cần đầu tư công nghệ tẩy rửa, dây chuyền súc rửa bao bì để loại bỏ hoàn toàn hóa chất tồn dư trước khi đưa vào tái chế.
Tái chế vòng kín cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Nhựa sau khi xử lý sạch có thể tái chế thành các sản phẩm không yêu cầu và độ tinh khiết thực phẩm như cọc rào, hồ chứa rác hoặc phụ kiện xây dựng. Đồng thời, tiêu hủy một cách an toàn với các bao bì không thể tái chế, bằng cách thiêu đốt trong lò đốt công nghiệp có hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn để tránh phát thải.
Ngoài ra, phải truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số, có các mã định danh cho sản phẩm. Để làm được điều đó nhà sản xuất cần dán mã trên mỗi đơn vị sản phẩm để theo dõi được lượng bao bì phát hành ra thị trường và lượng thu hồi.
Đặc biệt, trong ứng dụng quản lý, việc xây dựng app cho nông dân để nắm được các điểm thu gom gần nhất và nhận thưởng cũng rất quan trọng, khi trả lại vỏ chai thì người dân được tích điểm vào quá trình làm việc đó.
“Tôi nghĩ rằng tất cả việc này sẽ có lợi ích đối với môi trường đất, bởi việc thực hiện trách nhiệm mở rộng đối với các cơ sở sản xuất, các nhà sản xuất sẽ mang lại những tác động rất tích cực”, PGS. TS Trương Mạnh Tiến tin tưởng.

