Già làng đầu nguồn sông Hinh (Phần 1)
Truyện ngắn của Nguyễn Quốc Trung

02/10/2012 08:28

>> Già làng đầu nguồn sông Hinh (Phần 2)

Người Ê Đê có câu cửa miệng, giàu bỏ bạn săn nghèo cũ, sang lấy vợ đẹp mới, nhưng ông K’Sor Phượng lấy vợ mọn khi thôi chức già làng, bước vào ngưỡng tuổi bảy mươi. Không còn chức tước mà ông lão lấy được thêm một vợ nữa, cừ chưa? Nghe tôi thốt lên vậy, người đưa tin nói tiếp: “Bà vợ trước đã về núi, chưa làm lễ bỏ mả. Vợ mới này chữ nghĩa đầy gùi, là cô Chiêu dẫn đoàn cứu trợ đây lên cái đận giặc nước tàn phá, nếu anh quên cô ấy thì trí nhớ có vấn đề rồi đó”. Tôi lại kêu nhỏ: “Làm sao quên được đôi mắt một mí ấy. Cô ta bị già làng dùng bùa ngải gì chắc?”. “Trái lại, chính cô ấy chài già làng chúng ta”. Điện thoại dừng kết nối nhưng tôi vẫn đứng lặng, như chưa tin vào chuyện vừa nghe. Vợ ra rừng chưa làm lễ bỏ mả mà rước vợ mới về? Bộ ông K’Sor Phượng dám gạt bỏ luật tục nối dây bất thành văn nhưng rất nghiêm khắc của người Ê Đê?

Trận lũ quét biến đổi nhiều dòng chảy sông suối, khiến nhiều buôn làng thành bình địa ở Phú Yên cách đây gần năm năm, đã khiến tôi được làm quen với ông K’Sor Phượng. Trong khi nhà cửa buôn Bai bị vày nát thành xà bần, ngôi nhà dài của ông K’Sor Phượng vẫn nguyên vẹn, sừng sững tựa con thuyền qua phong ba bão táp. Là nhờ tao thờ thần linh đó. Già làng hãnh diện nói và cho chúng tôi biết về những vị thần trong khu vườn rộng này, từ cái ghế kpan dài bằng suốt hiên nhà, chum ché sành lâu đời, mâm thau, nồi đồng, đến gốc cổ thụ trong vườn, bến nước bên bờ suối đều có các vị thần nương náu, che chở. Già làng sống trong thế giới của thần linh, nương tựa vào sự chở che của thần và tìm cách khuất phục lũ ma quái siêu hình. Tôi đâu phải là người tin vào thần thánh, ma quỷ, nhưng nghe già làng nói hoài về những chuyện thần linh giúp đỡ ông, chuyện ma quỷ hành dân làng, tự nhiên trong tôi chờn chợn nỗi sợ. Hình như trong mỗi con người chúng ta, dù hiện đại tới đâu, vẫn lưu giữ đức tin thời nguyên thủy của tổ tiên.

Già làng đầu nguồn sông Hinh (Phần 1)<br><i>Truyện ngắn của Nguyễn Quốc Trung</i> ảnh 1
Minh họa của Vũ Xuân Hoàn 

Lũ vừa đi qua, khắp buôn đang là bãi bùn lẫn gỗ gạch, mấy khối đá khổng lồ từ vách núi lăn xuống, đã có rất nhiều đơn vị bộ đội, các đoàn cứu trợ của các công ty, xí nghiệp từ các thành phố đến phát hàng cứu trợ, dựng lại nhà cửa cho bà con buôn làng. Đoàn công ty xuất nhập khẩu đa mặt hàng do cô Chiêu dẫn đầu, chở lên một xe ca hăm tư chỗ ngồi chất đầy quần áo, chăn màn, mì ăn liền là những thứ rất cần thiết lúc ấy. Nghe đâu Chiêu là phó phòng kinh doanh. Cô có dáng người cao, hơi gầy, mắt đóng quầng đen như ẩn giấu nỗi niềm gì đó, trong một lần trò chuyện, vốn tính đường đột, tôi hỏi tuổi, cô cho hay ba mươi lăm. Vậy mà tôi cứ tưởng cô đã ngoài bốn mươi rồi. Nghe tôi phô nói một cách đường đột như vậy, cô cười lạnh, đôi mắt một mí xiết cái nhìn như muốn cắt đôi tôi ra. Phụ nữ mình không nên hỏi tuổi, đã đành, và không dại dột bảo họ già trước tuổi. Tôi trách mình vì nói năng thiếu suy nghĩ. Nhưng dần dà mới hiểu tính người phụ nữ này kiệm lời, hơi lạnh lùng, không muốn tiếp chuyện với người lạ, trái với tính nết người miệt vườn. Nhưng rồi, buổi chiều hôm sau, chúng tôi đến nơi một nửa trái núi sụt lở, chôn vùi nhà cửa, những khối đá khổng lồ lăn xuống, chắn ngang đường đi. Khi thấy một đơn vị bộ đội đang đào bới, lôi xác nạn nhân giập nát từ đống đất đá ra, Chiêu ôm mặt khóc. Từ đó, cô không còn giữ vẻ mặt lạnh nữa, mà nói chuyện thân mật với mọi người, trong đó có tôi. Một lần, Chiêu hỏi tôi: “Anh có tin bản tính con người là bất biến không thể thay đổi được không?” Thấy tôi ngơ ngác, cô nói tiếp: “Ví như một người đàn ông bê tha, nhậu nhẹt, đánh đập vợ, liệu có cải tạo được không?” Tôi đáp hơi vội vàng: “Nếu biết cách và phải kiên trì”. Chiêu nói: “Tôi hiểu tại sao con gái đồng bằng sông Cửu Long chạy đi lấy chồng nước ngoài, mặc dù họ biết sang Đài Loan, Hàn Quốc là đánh cuộc số phận, nhưng còn hơn…” Chiêu bỏ lửng câu nói. Tôi cũng không hỏi tiếp, chuyện nhà người khác mình không nên can dự.

Trong chuyến đi ấy, đoàn cứu trợ của công ty ấy và tôi ở trong nhà dài già làng K’Sor Phượng hơn hai tuần lễ. Người đứng đầu buôn về luật tục này đã làm tôi thay đổi khái niệm về già làng là phải cà răng, căng tai, miệng không rời tẩu thuốc. Dáng người ông to khỏe, ăn to nói lớn, ở tuổi ngoài sáu mươi nhưng bắp tay vẫn săn chắc, mắt sáng, hàm răng trắng đều tăm tắp, nói gì dân nghe nấy, uy tín ông còn hơn một số cán bộ xã. Ra ngoài buôn thì vậy nhưng về nhà lại răm rắp tuân theo lệnh của bà vợ già hơn lão tới mười mùa rẫy, lúc đó bà đã bảy mươi lăm tuổi rồi, lưng còng lọm khọm, mắt kèm nhèm. Phải lấy người đàn bà hơn tuổi một thập kỷ là hậu quả của tục nối dây, sau khi vợ tạ thế, chàng trai K’Sor Phượng phải lấy người chị gái đầu của vợ, khi cưới đó đã ngoài năm mươi tuổi, làm vợ kế. Từ khi bước vào nhà dài này bà chỉ quanh quẩn bên cái bếp lúc nào cũng rừng rực lửa củi đun nấu đồ ăn, thức uống, bộ đồ dân tộc và cái khăn đội đầu nám màu tro. Nhưng hễ bà lão sai khiến gì là chàng K’Sor Phượng làm theo. Thoạt đầu, tôi cười thầm, cho rằng lão sợ vợ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu, người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, chính vợ đem của nả để cưới chồng nên người vợ là chủ nhà. Thói quen của già làng là từ mờ sương đã xách nỏ, vào tận rừng sâu săn bắn, xem nuông thú có mắc bẫy gài trước không, đến lúc mặt trời gác núi mới về. Hễ được con thú lớn như heo, nai, hoẵng, già làm thịt phân phát đều cho khắp buôn, thú nhỏ như thỏ, cheo, chồn thì chia cho bà con xóm giềng gần. Đó là tập tục từ xa xưa của cộng đồng bà con dân tộc này. Khi ông già cùng mấy người đàn ông mổ thịt, bà già ngồi ở ghế kpan chỉ đạo cách chia cho đều. Nhiều lúc bà nổi nóng, ông vẫn nín thinh. Chẳng lẽ mấy thứ đồ sành sứ, đồ thau, đồ đồng ấy đã khuất phục người đàn ông vạm vỡ, từng bắt những con thú dữ nhất trong đại ngàn thượng nguồn sông Hinh này? Tôi nghĩ. Nhưng chỉ một thời gian ngắn tôi xua đi ý nghĩ ấy và cho rằng, mỗi người rất khác nhau về quan niệm sống, một xã hội dân chủ là mọi người cần tôn trọng lựa chọn của từng người.

Còn cô Chiêu thấy cảnh ấy thì ngạc nhiên lắm. Nhiều lúc tôi thấy cô tựa gốc cây lặng nhìn đôi vợ chồng già, đưa tay gạt nước mắt. Cô cảm động trước tình cảm của họ hay đang nghĩ đến thân phận mình?

Cũng trong thời gian ấy, tôi được dân buôn kể nhiều chuyện vui về già làng. Đó là vào những năm 1990 ngân hàng nhà nước cho nhiều gia đình, dĩ nhiên là có già làng, vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất, chăn nuôi. Người nào cũng hăm hở nhận bọc tiền lớn, hồi ấy một vài chục triệu là món tiền rất giá trị, có thể mua được năm, bảy lượng vàng. Cán bộ ngân hàng nói: “Chúng tôi mong già và bà con buôn làng làm cho tiền sinh đẻ thêm”. Già làng thay mặt toàn buôn cảm ơn. Nhận tiền về nhưng chẳng biết làm gì, già làng bảo mọi nhà cho vào ống bương rồi gác lên kèo nhà. Một năm sau, cán bộ ngân hàng tới thu hồi vốn và lãi, người đứng đầu buôn và bà con mang nguyên số tiền ấy tới nộp, ngân hàng hỏi tiền lãi. Già làng nói to: “Tụi tao tưởng cứ để trong đó là nó sinh đẻ”. Rồi chuyện khi buôn được tặng chiếc ti vi màn hình khá lớn, để bà con học chương trình khuyến nông, xóa đói giảm nghèo, già làng đã tổ chức đâm trâu cúng thần linh ứng vào để giữ cho khỏi hư hỏng, tiền con trâu đực bự đó còn gấp ba giá chiếc ti vi. Nhưng đâu chỉ vài tuần sau chiếc ti vi có thần linh ứng ấy bị chập điện cháy, màn hình đen như phết hắc ín.

Trước khi các đoàn cứu trợ về, già làng K’So Phượng tổ chức đêm hội rượu cần giữa buôn Bai, với những ngôi nhà gỗ vừa được bộ đội và các cơ quan giúp đỡ dựng lên trên nền đất ba dan đỏ như gạch, nhiều ngôi nhà chưa kịp thưng đóng. Thoạt đầu tôi hơi băn khoăn, trong cảnh ấy có nên hát hò không? Nhưng khi đống lửa cháy bùng lên, tiếng cồng chiêng vang lên, mọi người múa hát quanh ngọn đèn màu vàng ròng bện xoắn hình chóp nón, thì tôi mới hiểu, sức sống của người dân nơi đây thật mãnh liệt, ẩn giấu bên trong những thân thể gân guốc, những khuôn mặt chai sạn bởi nắng gió là tâm hồn nghệ sỹ bay bổíng. Phải chăng già làng muốn nhắn gửi thông điệp ấy cho chúng tôi? Đêm ấy, tôi thấy cô Chiêu đứng lặng ở cái gò bên sân ngắm nhìn mọi người múa hát.

*

Sự kiện già làng K’Sor Phượng cưới vợ mới đã thôi thúc tôi trở lại buôn Bai. Nhưng phải thu xếp công việc đến gần Tết Nguyên Đán mới đi được. Bây giờ, từ Sài Gòn tới Phú Yên chỉ là một đêm đi tàu. Tới ga Tuy Hòa, bắt taxi ngược lên thượng nguồn sông Hinh cũng chỉ vài giờ đồng hồ.

Khi tới đỉnh dốc đầu buôn, tôi vô cùng cảm kích, buôn Bai đã thay đổi đến khó tưởng tượng, trên sườn đồi đổ nát ngày nào, đã mọc lên những ngôi nhà dài dáng thuyền mái hình chóp lợp ngói đỏ như cánh buồm, cả buôn tựa một hạm thuyền lao về hướng đông.

Trong buôn nhộn nhịp khác thường, người ta đi lại, tay xách nách mang, nhiều người mang gùi những cuộn lá dong xanh, hình như họ từ rừng về.

Sau mấy năm gặp lại, ông già K’Sor Phượng không hề thay đổi, mái tóc dày ngời đen, hàm răng đều tăm tắp, trắng ngà. Tôi nghiệm thấy rằng, người dân tộc thiểu số ít thay đổi bề ngoài theo thời gian. Mà lạ, già K’Sor Phượng có vẻ nhanh nhẹn hơn, mặt căng bóng nhiều nếp nhăn lặn đi rồi, nụ cười lấp lánh trên môi. Cứ trông bề ngoài cũng đủ biết ông đang rất hạnh phúc. Vốn tính nhanh nhảu đoảng, tôi hỏi:

- Cho tôi chào cô dâu mới.

- Cô ấy đang sang nhà bà H’Phiêng hướng dẫn mọi người gói bánh chưng, bánh tét, làm mứt.

Tôi reo lên thú vị:

- Bà con dân tộc đón Nguyên Đán?

- Chớ sao, cả chục năm nay người các dân tộc đầu nguồn sông Hinh cùng ăn Tết với bà con miền xuôi rồi. Và, người miền xuôi lên đây định cư cũng đón Tết của người Ê Đê. Gọi chung là Tết đoàn kết.

Ông đáp, rồi nheo mắt hỏi tôi:

- Tiền mừng cưới, tiền lì xì năm mới đâu?

Tôi lúng túng:

- Tôi tưởng ở xứ mình đây không quen xài tiền.

Đôi mắt nâu quắc lên:

- Mi giả đò hay nói thiệt. Bây giờ mọi việc khác trước, sống ở buôn làng giữa đại ngàn cũng cần phải xài tiền.

(Số sau đăng tiếp)

    Già làng đầu nguồn sông Hinh (Phần 1)<br><i>Truyện ngắn của Nguyễn Quốc Trung</i>
    • Mặc định