Đưa pháp luật đến người dân bằng hướng dẫn dễ hiểu, dễ thực hiện
Sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ nhằm đổi mới phương thức truyền tải, nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật mà còn phải phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm tổ chức thực hiện; tăng cường giám sát, truyền thông chính sách và ứng dụng công nghệ số gắn với trách nhiệm cung cấp thông tin… Đây là những nội dung được các đại biểu Đoàn ĐBQH các tỉnh Nghệ An và Lâm Đồng nhấn mạnh khi thảo luận tại Tổ 7, sáng 4/8 về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Hướng dẫn cụ thể, phân định rõ trách nhiệm thực hiện
Thảo luận tại tổ, ĐBQH Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) cho biết, hiện nay, các cơ quan nhà nước đang tăng cường kiểm tra, rà soát việc tuân thủ pháp luật về thuế trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, tư vấn pháp luật, tư vấn bất động sản... Tuy nhiên, theo phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, điều người dân và những người hoạt động trong các ngành, nghề này cần nhất là được hướng dẫn để thực hiện đúng các quy định, thủ tục về thuế.
Theo đại biểu, đây là nội dung liên quan trực tiếp đến trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật.

Đại biểu dẫn thực tế đầu năm 2026, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 46, nhiều doanh nghiệp làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm phản ánh mong muốn được hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục đưa hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam để thực hiện đúng và tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên, hầu như chưa có cơ quan nào hướng dẫn cụ thể về nội dung này.
Từ thực tế đó, đại biểu cho rằng: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan cung cấp dịch vụ công trong việc xây dựng tài liệu hướng dẫn TTHC cho người dân và doanh nghiệp.
Qua rà soát, đại biểu nhận thấy Nghị định số 118 năm 2025 đã có một số quy định về nội dung này. Tuy nhiên, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn cần quy định các nguyên tắc yêu cầu cơ quan cung cấp dịch vụ công phải phổ biến, hướng dẫn cụ thể từng bước thực hiện TTHC.
Theo đại biểu, yêu cầu này càng có ý nghĩa trong thời gian tới, khi việc phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, mỗi tỉnh, thành phố có thể có những TTHC riêng... Nếu không có hướng dẫn đầy đủ, người dân và doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các quy định của pháp luật.
Vì vậy, đại biểu đề nghị dự thảo Luật bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan cung cấp dịch vụ hành chính công. Theo đó, mỗi TTHC phải có một bộ tài liệu hướng dẫn độc lập, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu; được trình bày theo từng bước, có danh sách kiểm tra hồ sơ, sơ đồ quy trình và các yêu cầu cần thiết khác để người dân, doanh nghiệp có thể tìm hiểu rõ cách thức thực hiện... "Cách làm này sẽ thiết thực hơn nhiều so với việc tổ chức các hội nghị phổ biến dự án luật nhưng chưa đo lường, đánh giá được kết quả sau hội nghị”, đại biểu nhấn mạnh.
Góp ý về quy định Ngày Pháp luật Việt Nam tại Điều 8, đại biểu cho biết: nội dung này được kế thừa từ Luật hiện hành. Tuy nhiên, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường tinh thần thượng tôn Hiến pháp theo Nghị quyết số 27 của Trung ương, đại biểu đề nghị cân nhắc đổi tên “Ngày Pháp luật Việt Nam” thành “Ngày Hiến pháp Việt Nam”.

Theo đại biểu, ngày 9/11 là ngày ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Hiến pháp năm 1946. Vì vậy, việc gọi là Ngày Hiến pháp sẽ tôn vinh đúng bản chất của sự kiện.
Đề xuất này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Qua khảo sát, đại biểu nhận thấy nhiều nước trên thế giới sử dụng tên gọi Ngày Hiến pháp. Trung Quốc lấy ngày 4/12 là Ngày Hiến pháp; tại nhiều quốc gia, Ngày Hiến pháp còn được xác định là ngày nghỉ công cộng để người dân tôn vinh Hiến pháp.
Theo đại biểu, tên gọi Ngày Hiến pháp cũng thể hiện tinh thần thượng tôn Hiến pháp, thể hiện rõ bản chất Hiến pháp là khế ước của xã hội. Nội dung này trước đây cũng đã được một số ý kiến đề xuất tại cuộc họp của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội. Vì vậy, đại biểu Hoàng Minh Hiếu khẳng định sự đồng tình với đề xuất đổi Ngày Pháp luật Việt Nam thành Ngày Hiến pháp Việt Nam.
Góp ý về điều khoản chuyển tiếp tại Điều 28, đại biểu Hoàng Minh Hiếu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bởi hai khoản được quy định tại điều này không đúng bản chất của điều khoản chuyển tiếp mà là các quy định về tổ chức thực hiện.
Theo dự thảo, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật đã được công nhận theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn của Luật này thì được ưu tiên lựa chọn làm báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật.
Đại biểu cho rằng, quy định này chưa hợp lý. Nếu những người đã được công nhận theo Luật hiện hành tiếp tục đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của Luật mới, có nguyện vọng tiếp tục thực hiện nhiệm vụ và được công nhận theo Luật mới thì không nên sử dụng từ “ưu tiên”.
Đối với khoản 2, dự thảo quy định về những trường hợp chưa có tiêu chuẩn tại thôn, khu dân cư. Đại biểu Hoàng Minh Hiếu cho rằng: nội dung này cũng không đúng bản chất của điều khoản chuyển tiếp. Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát lại Điều 28 để quy định đúng bản chất của điều khoản chuyển tiếp.
Còn theo ĐBQH Vũ Thị Lan Anh (Nghệ An), việc phân cấp, phân quyền và tổ chức thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng. Đại biểu thống nhất với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong dự thảo Luật; giao HĐND cấp tỉnh quyết định các cơ chế ưu tiên nguồn lực và hỗ trợ xã hội hóa; giao người đứng đầu cơ quan, tổ chức và Chủ tịch UBND các cấp quyết định một số nội dung trong quá trình tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị phân định rõ thẩm quyền của HĐND, UBND, Chủ tịch UBND và mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
Theo đại biểu, khi đã giao thẩm quyền cho địa phương thì cần cân nhắc có nên tiếp tục giao Chính phủ quy định chi tiết về phương thức tổ chức thực hiện hay để chính quyền địa phương quyết định phương thức phù hợp với tình hình thực tiễn của từng địa phương.
Nếu vừa giao thẩm quyền cho chính quyền địa phương, vừa tiếp tục giao Chính phủ quy định chi tiết thì có thể dẫn đến trùng lặp và thiếu thống nhất trong tổ chức thực hiện. Vì vậy, đại biểu đề nghị tiếp tục cân nhắc, làm rõ nội dung này.
Liên quan đến khoản 3 Điều 7, dự thảo quy định Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật có thể được thành lập ở cấp xã. Đại biểu đề nghị cân nhắc, không nên luật hóa việc thành lập thêm Hội đồng này ở cấp xã.
Theo đại biểu, trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, khối lượng công việc của cấp xã tăng lên trong khi nguồn nhân lực còn hạn chế. Nếu tiếp tục thành lập thêm Hội đồng thì cán bộ, công chức phải kiêm nhiệm, tham gia nhiều hội đồng khác nhau, dẫn đến tính khả thi và hiệu quả hoạt động không cao.
Vì vậy, đại biểu đề nghị giao Chủ tịch UBND cấp xã quyết định cơ chế phối hợp phù hợp để tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Trong trường hợp cần thiết, địa phương có thể quyết định thành lập mô hình hoặc cơ chế phối hợp phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Không nên quy định cụ thể trong Luật việc thành lập Hội đồng ở cấp xã, bởi có thể làm phát sinh thêm đầu mối, thủ tục và hình thức hoạt động không cần thiết.
Góp ý về vai trò giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình, đại biểu cho biết: khoản 5 Điều 27 của dự thảo đã quy định khá rõ vai trò kiểm tra, giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật.
Việc quy định tại Điều 28 về HĐND các cấp giám sát việc thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật theo thẩm quyền cũng góp phần tăng cường kiểm soát việc thực hiện chính sách tại địa phương.
Tuy nhiên, dự thảo mới xác định chủ thể có trách nhiệm giám sát nhưng chưa làm rõ đối tượng, nội dung, phương thức giám sát và cơ chế tiếp nhận, xử lý sau giám sát... Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung hoặc quy định chi tiết theo hướng cơ quan quản lý nhà nước, UBND các cấp có trách nhiệm cung cấp thông tin, báo cáo và giải trình theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giám sát.
Kết quả đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phải được công khai ở mức độ phù hợp và làm căn cứ xem xét trách nhiệm của người đứng đầu. Các kiến nghị sau giám sát cũng cần được tiếp thu, phản hồi trong một thời hạn xác định.
Theo đại biểu, quy định rõ các nội dung này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Ở góc nhìn khác, ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) đồng tình với ý kiến đề nghị quy định thống nhất việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã, không nên thiết kế theo hướng mở, dẫn đến tình trạng nơi thành lập, nơi không thành lập.

Theo đại biểu, dự thảo Luật giao Chủ tịch UBND cấp xã quyết định việc thành lập Hội đồng. Tuy nhiên, Chủ tịch UBND cấp xã có thể thay đổi qua từng nhiệm kỳ. Nếu việc thành lập hay không thành lập Hội đồng phụ thuộc vào quyết định của người đứng đầu thì ngay trên cùng một địa bàn cấp xã cũng có thể xảy ra sự thiếu thống nhất giữa các nhiệm kỳ.
Vì vậy, đại biểu đề nghị dự thảo Luật cần lựa chọn và quy định thống nhất theo một phương án là thành lập hoặc không thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã, không nên để tùy nghi.
Góp ý về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách tại khoản 2 Điều 2, đại biểu cho biết dự thảo quy định công dân có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
Theo đại biểu, quy định này chưa phù hợp với nội hàm của điều luật, bởi Điều 2 quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách, không phải quy định chung về nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Mặt khác, nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật đã được quy định trong Hiến pháp. Do đó, đại biểu cho rằng: không cần thiết quy định lại nội dung này tại khoản 2 Điều 2.
Liên quan đến thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh trong việc ban hành cơ chế, chính sách đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đại biểu đề nghị làm rõ quy định tại khoản 2 Điều 4.
Theo dự thảo, ngoài các ưu đãi chung theo quy định của pháp luật, HĐND cấp tỉnh căn cứ tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương quyết định cơ chế hỗ trợ, khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách theo thẩm quyền.
Đại biểu cho rằng: cách diễn đạt hiện nay chưa làm rõ “cơ chế hỗ trợ” là hỗ trợ cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hay hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia xã hội hóa.
Nếu hiểu theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp thì có thể chưa thống nhất với khoản 1, bởi khoản này chỉ quy định Nhà nước khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia, hỗ trợ nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Đối chiếu với khoản 2 Điều 28, dự thảo quy định HĐND cấp tỉnh ban hành cơ chế ưu tiên nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương. Từ đó, đại biểu cho rằng cơ chế hỗ trợ tại khoản 2 Điều 4 cần được hiểu là hỗ trợ cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; còn cơ chế khuyến khích áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia xã hội hóa.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo quy định rõ hơn khoản 2 Điều 4, tránh nhầm lẫn trong quá trình thực thi, nhất là cách hiểu địa phương phải ban hành cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp, trong khi khoản 1 chỉ quy định theo hướng khuyến khích.
Góp ý về các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật tại Điều 11, đại biểu cho rằng: dự thảo đang liệt kê quá nhiều hình thức. Cách quy định này có thể vừa thừa, vừa thiếu, khiến điều luật trở nên rườm rà và thiếu tập trung.
Đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị nghiên cứu thiết kế Điều 11 theo hai nhóm hình thức: Nhóm thứ nhất là các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chính được Nhà nước bảo đảm ngân sách, qua đó tập trung nguồn lực cho việc tổ chức thực hiện. Nhóm thứ hai là các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được lồng ghép trong hoạt động của các cơ quan, như điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trợ giúp pháp lý, hòa giải và các hoạt động có liên quan.
Theo đại biểu, việc liệt kê cụ thể quá nhiều hình thức trong Luật có thể dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu, không còn phù hợp khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi. Khi xuất hiện hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới, Luật lại phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung.
Vì vậy, đối với các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chính được Nhà nước bảo đảm ngân sách, đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định danh mục... Đối với các hình thức được lồng ghép trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và các hoạt động khác thì chỉ nên quy định theo nguyên tắc chung.
Gắn ứng dụng công nghệ với trách nhiệm cung cấp thông tin
Góp ý về ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật, ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) cho rằng: khoản 1 Điều 13 mới quy định chung theo hướng khuyến khích.
Vì vậy, cần quy định cơ quan nhà nước, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, có trách nhiệm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo phù hợp với điều kiện thực tế; đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia.

Theo đại biểu, thông tin pháp luật được cung cấp thông qua trí tuệ nhân tạo phải được khai thác từ nguồn dữ liệu chính thống, bảo đảm chính xác, cập nhật kịp thời; trường hợp phát hiện sai sót phải đính chính. Cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng trí tuệ nhân tạo để cung cấp thông tin pháp luật phải chịu trách nhiệm về nội dung do mình cung cấp, không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
Việc ứng dụng công nghệ số cũng cần kết hợp với các hình thức phổ biến trực tiếp, phù hợp với người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và người dân tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo đảm mọi người đều có khả năng tiếp cận thông tin pháp luật.
Đối với các nhóm đối tượng được ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật, đại biểu cơ bản thống nhất với phạm vi được quy định trong dự thảo. Tuy nhiên, khoản 8 Điều 16 quy định “đối tượng khác có khó khăn, hạn chế trong tiếp cận pháp luật do Chính phủ quy định” nhưng chưa xác định căn cứ nhận diện.
Theo đại biểu, khó khăn trong tiếp cận pháp luật có thể xuất phát từ điều kiện kinh tế, xã hội, địa lý, ngôn ngữ, khả năng tiếp cận thông tin hoặc những hoàn cảnh khách quan khác. Nếu không xác định phạm vi ngay trong Luật, việc quy định và áp dụng đối với các nhóm đối tượng khác có thể thiếu thống nhất; nhưng nếu liệt kê đầy đủ từng nhóm thì khó bao quát các trường hợp mới phát sinh.
Vì vậy, đại biểu đề nghị sửa khoản 8 Điều 16 theo hướng: “Đối tượng khác gặp khó khăn, hạn chế trong tiếp cận pháp luật do điều kiện kinh tế, xã hội, địa lý, ngôn ngữ, khả năng tiếp cận thông tin hoặc hoàn cảnh khách quan khác theo quy định của Chính phủ”.
Cách quy định này không khép kín danh sách đối tượng nhưng xác định rõ phạm vi chính sách, tạo căn cứ nhận diện những người thực sự cần được ưu tiên, đồng thời hạn chế việc mở rộng đối tượng không phù hợp.
Về truyền thông chính sách, đại biểu thống nhất với việc bổ sung nội dung này nhằm cung cấp thông tin ngay từ giai đoạn đề xuất, soạn thảo, giúp người dân, doanh nghiệp hiểu rõ nội dung, tác động dự kiến và tham gia góp ý trước khi chính sách được ban hành... Tuy nhiên, cần phân định rõ truyền thông chính sách với hoạt động lấy ý kiến, tham vấn trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị bổ sung tại Điều 21 quy định hoạt động truyền thông chính sách không thay thế việc lấy ý kiến, tham vấn và thực hiện trình tự, thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, qua đó tránh trùng lặp và không làm phát sinh thêm thủ tục không cần thiết.
Bên cạnh đó, Điều 22 cần quy định đầy đủ trách nhiệm của cơ quan chủ trì trong việc cung cấp thông tin chính thức; tiếp nhận, tổng hợp, phản hồi hoặc giải trình phù hợp đối với các ý kiến được tiếp nhận qua hoạt động truyền thông, bảo đảm truyền thông chính sách được thực hiện hai chiều và xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm xử lý phản hồi của người dân, doanh nghiệp.

