Đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW vào cuộc sống:Đồng bộ từ thể chế đến hành động
Sau 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, những chủ trương lớn đang từng bước được cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, các cơ chế, chính sách mới và những chương trình hành động đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.
Hoàn thiện thể chế - tạo nền tảng cho động lực tăng trưởng mới
Điểm nổi bật trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57 – NQ/TW là sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, trong đó Quốc hội giữ vai trò quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo nền tảng pháp lý cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Quốc hội đã ban hành nhiều luật, nghị quyết, qua đó tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế số và xã hội số. Trong đó, Luật Giao dịch điện tử tạo nền tảng cho giao dịch và niềm tin số; Luật Viễn thông hoàn thiện hạ tầng kết nối; Luật Dữ liệu đặt nền móng cho quản trị dữ liệu quốc gia; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân góp phần bảo đảm quyền riêng tư và củng cố niềm tin xã hội trong môi trường số.
Đặc biệt, Luật Chuyển đổi số lần đầu tiên thiết lập khung khái niệm, nguyên tắc, chính sách và trách nhiệm của các chủ thể trong chuyển đổi số ở phạm vi quốc gia, tạo sự thống nhất trong cách tiếp cận và đánh giá hiệu quả triển khai.

Cùng với đó, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng Nghị quyết số 57 khẳng định tư duy quản trị mới, chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển; khuyến khích đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, thúc đẩy cơ chế thử nghiệm (sandbox), lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cùng chương trình hành động của Chính phủ được xem là "cầu nối" để tinh thần của Nghị quyết 57 nhanh chóng đi vào cuộc sống, tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tài chính và đầu tư đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ tiếp tục hoàn thiện cơ chế đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy hấp thụ và lan tỏa công nghệ, góp phần nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trên nền tảng thể chế được hoàn thiện, Chính phủ đã nhanh chóng cụ thể hóa Nghị quyết 57 bằng nhiều chương trình, đề án và nhiệm vụ trọng tâm. Tiêu biểu là Quyết định số 982/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đề án hướng tới xây dựng đội ngũ doanh nghiệp công nghệ số có năng lực cạnh tranh quốc tế, làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần xây dựng thương hiệu Make in Viet Nam.
Không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, Chính phủ còn định hướng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông qua tăng cường liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; ưu tiên đầu tư nghiên cứu công nghệ lõi, hỗ trợ kết nối nguồn vốn, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Theo báo cáo và phát biểu của đại diện lãnh đạo các bộ, ngành tham dự Phiên họp chuyên đề của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 cho thấy, điểm thay đổi quan trọng sau khi triển khai Nghị quyết 57 là tư duy xây dựng thể chế. Thể chế không chỉ phục vụ quản lý mà từng bước trở thành lợi thế cạnh tranh, tạo không gian phát triển cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, nhiều bộ, ngành đã chủ động đề xuất cơ chế thử nghiệm đối với công nghệ mới, mô hình kinh tế mới; tập trung tháo gỡ các rào cản trong chuyển giao công nghệ lõi, phát triển hạ tầng năng lượng, y tế chuyên sâu và nhiều lĩnh vực quan trọng khác.
Định hướng nghiên cứu khoa học cũng chuyển mạnh từ nghiên cứu hàn lâm sang nghiên cứu làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và tạo ra các sản phẩm có khả năng ứng dụng ngay trong thực tiễn. Nguồn lực đầu tư được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên; hợp tác công - tư trong nghiên cứu được đẩy mạnh; các tổ chức khoa học công lập và trường đại học được tạo điều kiện thành lập doanh nghiệp để thương mại hóa tài sản trí tuệ.
Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã thành lập tổ công tác về công nghệ chiến lược; hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật Công nghệ cao; ban hành danh mục tiêu chuẩn, công bố 8 quy chuẩn Việt Nam và hoàn thành thẩm định 53 tiêu chuẩn Việt Nam dự kiến ban hành trước ngày 30/6 này. Bộ cũng đã rà soát 16 phòng thí nghiệm trọng điểm và ban hành Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026 - 2030 nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ mới.
Từ chủ trương đến những chuyển động ở địa phương
Nếu ở Trung ương, trọng tâm là hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách thì ở địa phương, Nghị quyết 57 – NQ/TW đang được hiện thực hóa bằng những mô hình gắn chặt với nhu cầu phát triển của từng vùng, từng ngành.
Trong nông nghiệp, khoa học, công nghệ không còn dừng ở các đề tài nghiên cứu mà đã trực tiếp tham gia nâng cao năng suất và giá trị sản xuất. Từ mô hình nuôi tôm tuần hoàn công nghệ cao ở Cà Mau, ứng dụng máy bay không người lái, phân bón nano tại Vĩnh Long đến nền tảng dữ liệu số giám sát sâu bệnh ở Đồng Tháp, công nghệ đang trở thành công cụ giải quyết những bài toán sản xuất cụ thể.
Nhiều địa phương cũng lựa chọn phát triển khoa học, công nghệ trên cơ sở khai thác lợi thế bản địa. Nghệ An phát triển phân bón hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn; Lào Cai ứng dụng công nghệ gen bảo tồn nguồn giống bản địa; Quảng Trị làm chủ các quy trình công nghệ sinh học phục vụ phát triển sản phẩm OCOP.
Ở lĩnh vực du lịch, chuyển đổi số góp phần nâng cao giá trị tài nguyên văn hóa. Hệ thống dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, bản đồ số và thuyết minh tự động đang được nhiều địa phương như Ninh Bình, Tuyên Quang, Điện Biên đưa vào quản lý, bảo tồn và quảng bá di sản.
Một chuyển biến đáng chú ý là nhiều địa phương không chỉ dừng ở nghiên cứu mà đã quan tâm nhiều hơn đến thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ. Từ nền tảng truy xuất nguồn gốc chè ứng dụng IoT của Thái Nguyên, hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm OCOP tại Cần Thơ đến cơ chế huy động doanh nghiệp đồng hành nghiên cứu ở Phú Thọ và Khánh Hòa, mối liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và thị trường ngày càng được tăng cường.
Song song với phát triển sản xuất, nhiều địa phương cũng đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, phát triển hạ tầng dữ liệu và dịch vụ công trực tuyến. Các mô hình "làng số", quản trị dựa trên dữ liệu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đang từng bước lan tỏa, góp phần đưa chuyển đổi số đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp. Các tỉnh, thành phố như Đà Nẵng, Huế đã vận hành hiệu quả trung tâm điều hành thông minh; Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng tiên phong trong các lĩnh vực giao thông thông minh, chiếu sáng thông minh, cảng thông minh.
Có thể thấy, sau 1,5 năm triển khai, Nghị quyết 57 – NQ/TW của Bộ Chính trị đã tạo ra sự chuyển động đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

