Đưa Kết luận số 75-KL/TW vào cuộc sống Giảm rủi ro thiên tai cần bắt đầu từ quy hoạch
Giảm thiệt hại do thiên tai và biến đổi khí hậu cần được bắt đầu từ dự báo, cảnh báo, đánh giá nguy cơ và quy hoạch, thay vì chỉ tập trung ứng phó khi thiên tai xảy ra. PGS.TS. VŨ THANH CA, Giảng viên cao cấp Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho rằng, khu vực có nguy cơ cao cần chủ động di dời dân; nơi có thể kiểm soát rủi ro cần đầu tư hạ tầng chống chịu, qua đó cụ thể hóa yêu cầu của Kết luận số 75-KL/TW.
Đầu tư một đồng cho thích ứng, giảm hàng chục đồng thiệt hại
- Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới xác định: chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai, nâng cao mức độ an toàn của người dân và nền kinh tế là một nhóm giải pháp quan trọng. Theo ông, vì sao chúng ta buộc phải chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa, thích ứng?
- Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đều cho thấy biến đổi khí hậu làm gia tăng các loại hình thiên tai. Trái đất nóng lên khiến nước biển bốc hơi nhiều hơn, tạo điều kiện hình thành các cơn bão mạnh, thậm chí siêu bão, kèm mưa rất lớn. Gió mạnh, sóng lớn, nước dâng kết hợp triều cường có thể gây xói lở, ngập lụt và tàn phá nhà cửa, mùa màng. Mưa lớn cũng làm gia tăng ngập lụt, lũ, lũ quét và sạt lở đất; trong khi nắng nóng kéo dài ảnh hưởng đến sức khỏe, an ninh năng lượng và gây hạn hán, tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.

Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu thiệt hại nặng nề do thiên tai và biến đổi khí hậu. Riêng năm 2025, chưa tính thiệt hại do nắng nóng và hạn hán, bão, mưa lớn, lũ lụt, lũ quét, sóng lớn và nước dâng đã làm khoảng 484 người chết và mất tích, hàng trăm người bị thương; hàng nghìn ngôi nhà bị vùi lấp, sập đổ hoặc trôi dạt, hàng trăm nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; hơn 540.000ha lúa, hoa màu cùng hàng trăm nghìn ha cây trồng khác bị ngập úng. Tổng thiệt hại tài sản do thiên tai và biến đổi khí hậu ước tính vượt 104.000 tỷ đồng.
Các nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới cho thấy, đầu tư một đồng cho thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai và nâng cao an toàn cho người dân, nền kinh tế có thể giúp giảm nhiều chục đồng thiệt hại về tài sản. Vì vậy, không chỉ Kết luận số 75-KL/TW mà nhiều nghị quyết của Trung ương và Chính phủ trước đó đều nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động thích ứng, phòng, chống thiên tai.
Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam cho thấy mối quan tâm của chính quyền và người dân cũng như sự đầu tư về nhân lực, vật lực, tài chính cho yêu cầu này vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Do đó, Kết luận số 75-KL/TW có ý nghĩa rất cần thiết để tạo chuyển biến rõ rệt hơn trong nhận thức và hành động.
Dữ liệu đầy đủ, dự báo mới chính xác
- Một giải pháp quan trọng khác theo Kết luận số 75-KL/TW là tăng đầu tư, kết hợp huy động nguồn lực xã hội để hiện đại hóa quan trắc, dữ liệu, dự báo và cảnh báo. Đâu là những điểm cần ưu tiên để nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và khả năng chủ động ứng phó, thưa ông?
- Thực hiện chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật về nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo, chủ động ứng phó với thiên tai, các cơ quan chức năng đã đẩy mạnh hiện đại hóa mạng lưới quan trắc, truyền, lưu trữ và xử lý dữ liệu. Tuy nhiên, do hạn chế về nhân lực, đầu tư và kết nối, số liệu đo đạc vẫn còn thiếu, trong khi nhiều cơ sở, doanh nghiệp có hệ thống quan trắc khí tượng, thủy văn, hải văn nhưng chưa kết nối, truyền dữ liệu vào hệ thống quốc gia. Trong khi đó, mọi dữ liệu đều có giá trị, góp phần nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo, đánh giá nguy cơ, rủi ro và xây dựng phương án, hạ tầng phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Vì vậy, việc Kết luận số 75-KL/TW yêu cầu tăng đầu tư, kết hợp huy động nguồn lực xã hội để hiện đại hóa mạng lưới quan trắc, dữ liệu, dự báo và cảnh báo là một chủ trương rất đúng. Nâng cấp, hiện đại hóa các trạm quan trắc hiện có, bổ sung trạm mới, hoàn thiện đường truyền, hệ thống lưu trữ và xử lý dữ liệu sẽ góp phần hình thành cơ sở dữ liệu lớn, nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai, nhất là khi ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo. Nguồn dữ liệu này đồng thời phục vụ phòng, chống thiên tai, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về dự báo, cảnh báo thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đánh giá rõ nguy cơ để bố trí dân cư
- Để nâng cao năng lực tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở, xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó phù hợp với từng vùng, địa phương, nhất là khu vực có nguy cơ cao, theo ông, cần lưu ý điều gì?
- Dự báo, cảnh báo thiên tai là việc rất khó vì dữ liệu luôn không đầy đủ. Bởi vậy, với hầu hết các loại hình thiên tai, muốn giảm thiệt hại cần đánh giá nguy cơ, xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phòng ngừa, ứng phó phù hợp với từng vùng, địa phương, ưu tiên khu vực có nguy cơ cao để giảm rủi ro thiệt hại tới mức thấp nhất.
Phòng ngừa, ứng phó với thiên tai chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi chính quyền và cộng đồng địa phương thực hiện tốt theo phương châm “ba sẵn sàng”: phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả; và “bốn tại chỗ”: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện, vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ.
Khi thiên tai xảy ra, nếu phương án đã được xây dựng, thực hành và chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vật tư, tài chính, thiệt hại chắc chắn sẽ giảm đáng kể. Điều này càng quan trọng khi thông tin liên lạc có thể bị gián đoạn, giao thông tắc nghẽn, trong khi cứu nạn, cứu hộ rất cấp bách. Như vậy, yêu cầu của Kết luận số 75-KL/TW về nâng cao năng lực tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở (cấp xã, phường) là rất cần thiết và có cơ sở khoa học, thực tiễn.
- Kết luận số 75-KL/TW yêu cầu xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu dài hạn, phát triển hạ tầng chống chịu, điều chỉnh quy hoạch và di dân khỏi các khu vực có nguy cơ cao. Cần đưa yêu cầu thích ứng và khả năng chống chịu vào quy hoạch, đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội như thế nào để giảm rủi ro ngay từ đầu, thưa ông?
- Các quy định pháp luật, chính sách hiện nay đều yêu cầu tích hợp giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu vào quy hoạch, đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, phát triển hạ tầng chống chịu và di dân khỏi các khu vực có nguy cơ cao vẫn chưa được quan tâm thích đáng.
Trong quy hoạch đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh, dù thiên tai và biến đổi khí hậu đã được đề cập song việc đánh giá chi tiết nguy cơ, rủi ro để làm cơ sở bố trí dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội còn chưa đầy đủ. Vì vậy, hầu như chưa có quy hoạch xác định rõ khu vực có nguy cơ thiên tai cao và yêu cầu di dời dân.
Trong thực tế, di dời dân khỏi các khu vực có nguy cơ thiên tai cao là giải pháp chủ động, ít tốn kém nhưng hiệu quả và bền vững nhất để giảm thiệt hại. Bởi thiên tai có sức mạnh tự nhiên rất lớn, các giải pháp ngăn cản (chống) thiên tai thường rất tốn kém, trong khi giải pháp tránh thiên tai (di dời dân khỏi các khu vực có nguy cơ thiên tai cao) có chi phí thấp hơn nhiều. Với những khu vực có nguy cơ thấp hơn, phát triển hạ tầng chống chịu sẽ có tác dụng giảm đáng kể thiệt hại do thiên tai.
Như vậy, giảm rủi ro phải bắt đầu từ chính khâu quy hoạch: nơi nguy cơ cao thì chủ động di dời, nơi có thể kiểm soát rủi ro thì đầu tư hạ tầng chống chịu.
- Xin cảm ơn ông!

