Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Làm rõ nội hàm và vai trò các chủ thể
Yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển công nghiệp văn hóa là cấp thiết, song đây cũng là lĩnh vực mới và khó, xác lập nhiều cơ chế, chính sách đặc thù. Vì vậy, quá trình xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đòi hỏi phải nghiên cứu, tham vấn kỹ lưỡng, đánh giá tác động đầy đủ, đặc biệt với các chính sách mới, để bảo đảm tính khả thi và sự đồng thuận cao.
Làm rõ nội hàm “công nghiệp văn hóa”
Việt Nam được đánh giá đang hội tụ đầy đủ nguồn lực và điều kiện thuận lợi để bứt phá trở thành một trung tâm công nghiệp văn hóa năng động trong khu vực: kho tàng di sản và tài nguyên văn hóa đồ sộ, giàu bản sắc; nguồn nhân lực trẻ và khả năng sáng tạo cao; thị trường tiêu dùng văn hóa nội địa rộng lớn và năng động; khu vực kinh tế tư nhân ngày càng chủ động, tự tin đầu tư vào các chuỗi cụm sáng tạo, tổ hợp nghệ thuật, các nền tảng phân phối số…
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam thời gian qua vẫn gặp nhiều khó khăn, chưa tương xứng với tiềm năng. Trong đó, pháp luật chuyên ngành về một số lĩnh vực hiện nay chủ yếu tiếp cận công nghiệp văn hóa dưới góc độ quản lý nhà nước đơn thuần về nội dung, thiếu các chính sách mang tính kiến tạo để thúc đẩy phát triển kinh tế, chưa coi đây là một lĩnh vực kinh tế năng động có khả năng đóng góp lớn vào GDP và giải quyết việc làm.

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng nhằm khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước.
Mục đích là thế, nhưng tại phiên họp của Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội thẩm tra sơ bộ dự án Luật, ngay từ khái niệm “công nghiệp văn hóa”, nhiều đại biểu vẫn còn băn khoăn. Theo dự thảo Luật, “Công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế tạo ra sản phẩm công nghiệp văn hóa trên cơ sở kết hợp các yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ”. ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội Phan Thị Thùy Linh cho đây là “định nghĩa vòng tròn, tức là dùng ngay khái niệm cần được làm rõ để giải thích cho nó và người đọc sau khi đọc vẫn không biết sản phẩm công nghiệp văn hóa là gì”.
Định nghĩa này, theo ĐBQH Phan Thị Thùy Linh, cũng mới chỉ nhắc đến sản phẩm mà bỏ sót dịch vụ. Trong khi trên thực tế, phần lớn công nghiệp văn hóa nằm ở dịch vụ chứ không phải ở hàng hóa hữu hình, như biểu diễn nghệ thuật, điện ảnh, du lịch văn hóa, trò chơi trực tuyến, các nền tảng nội dung số…
Nhấn mạnh văn hóa và sáng tạo mới là hạt nhân để tạo ra giá trị đặc thù của công nghiệp văn hóa, còn công nghệ là phương tiện và quyền sở hữu trí tuệ là công cụ pháp lý để bảo hộ và khai thác giá trị đó, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh đề xuất phương án diễn đạt: Công nghiệp văn hóa là các ngành kinh tế sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ được hình thành từ sự sáng tạo và các giá trị văn hóa có ứng dụng công nghệ và được bảo hộ khai thác trên cơ sở quyền sở hữu trí tuệ.
Trong báo cáo thẩm tra sơ bộ, Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị tiếp cận công nghiệp văn hóa dưới góc độ một ngành kinh tế có tính sáng tạo, vận hành theo chuỗi giá trị sáng tạo - sản xuất - phân phối - tiêu dùng - tái đầu tư. Từ cách tiếp cận này, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh gợi ý, công nghiệp văn hóa là hệ thống các ngành kinh tế sản xuất, phân phối và khai thác sản phẩm, dịch vụ dựa trên giá trị văn hóa và sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của xã hội và tạo giá trị kinh tế.
Phân biệt rõ vai trò các chủ thể trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Dự thảo Luật dành một chương về Phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, nhưng lại chưa quy định rõ nội hàm cụ thể của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Đọc dự thảo Luật, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội Đinh Ngọc Quý chia sẻ, ông không hiểu hệ sinh thái này do chủ thể nhà nước tạo ra hay do các tổ chức, cá nhân tạo ra, thậm chí còn giao quyền cho cả địa phương, “rất khó hình dung hệ sinh thái này ở các cấp độ khác nhau”.
Dự thảo Luật cũng mới chỉ liệt kê các chủ thể tham gia hệ sinh thái mà chưa thể hiện được yếu tố tương tác giữa các chủ thể. Ngay chủ thể tham gia hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, có ý kiến đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc làm rõ nội hàm chủ thể thành phố sáng tạo và vai trò, tư cách tham gia hệ sinh thái công nghiệp văn hóa của một số chủ thể có quan hệ phụ thuộc.
Dự thảo Luật quy định hoạt động tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam trên các phương tiện truyền thông trong nước và quốc tế (điểm h, khoản 1, Điều 8) nhưng chưa đề cập vai trò, trách nhiệm của báo chí, cũng như mối quan hệ với pháp luật về báo chí trong hoạt động này, trong khi báo chí có vai trò quan trọng trong việc lan tỏa, quảng bá giá trị văn hóa.
Báo cáo thẩm tra sơ bộ cũng chỉ ra, các chính sách của dự thảo Luật chưa có sự phân biệt rõ vai trò tương ứng với tầm quan trọng, yêu cầu mức độ tham gia của từng chủ thể hoặc nhóm chủ thể trong chuỗi giá trị (sáng tạo - đầu tư sản xuất - phân phối - tiêu dùng - tái đầu tư) của hệ sinh thái, chưa phù hợp đối với các chủ thể (vai trò định hình, dẫn dắt sự phát triển công nghiệp văn hóa giữa Nhà nước và các khu vực kinh tế)…
Với một lĩnh mới và rất khó như công nghiệp văn hóa, việc làm rõ nội hàm các khái niệm rất quan trọng để từ đó thiết kế được các chính sách phù hợp, khả thi.

