Thời sự Quốc hội

Đơn giản hóa thủ tục sở hữu trí tuệ phải đi đôi với bảo đảm quyền lợi

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy • 24/10/2026 21:15

Thảo luận tại Tổ 10 chiều 24/10 về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, các ĐBQH tỉnh Nghệ An đề nghị làm rõ hiệu lực chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp, phân định trách nhiệm quản lý nhà nước và tăng cường kiểm chứng trong hoạt động khảo nghiệm, giám định; bảo đảm cải cách thủ tục đi đôi với bảo vệ quyền lợi và tính khả thi của pháp luật.

Làm rõ hiệu lực hợp đồng, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật

Tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ và các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước, chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp, bảo hộ giống cây trồng, ĐBQH Trần Đức Thuận đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm tính rõ ràng trong thực hiện, hạn chế phát sinh tranh chấp và đáp ứng yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh.

ĐBQH Trần Đức Thuận (Nghệ An) phát biểu
ĐBQH Trần Đức Thuận (Nghệ An) phát biểu

Góp ý về hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 138, đại biểu cho biết, khoản 3 dự kiến sửa đổi quy định hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp có hiệu lực kể từ thời điểm việc sửa đổi thông tin trên văn bằng bảo hộ được cơ quan quản lý nhà nước ghi nhận.

Theo đại biểu, cần phân biệt rõ hiệu lực của hợp đồng giữa các bên với thời điểm chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Nếu không quy định cụ thể, có thể phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán, trách nhiệm thực hiện hợp đồng và quyền đối với tài sản trí tuệ.

Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu quy định rõ hiệu lực của hợp đồng giữa các bên theo thỏa thuận và pháp luật dân sự; thời điểm chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật chuyên ngành; quyền, nghĩa vụ của các bên trong thời gian chờ cơ quan quản lý nhà nước ghi nhận việc chuyển giao. Đồng thời, cần xác định thời hạn giải quyết thủ tục hành chính để bảo đảm tính rõ ràng, thuận lợi trong thực hiện.

Liên quan đến việc đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại Điều 148, đại biểu cho rằng, quy định hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, trừ hợp đồng sử dụng nhãn hiệu, phải đăng ký để có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba là cần thiết. Tuy nhiên, yêu cầu đăng ký có thể làm gia tăng thủ tục đối với doanh nghiệp.

Vì vậy, đại biểu đề nghị làm rõ nội hàm cụm từ “có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba”, tránh nhầm lẫn với hiệu lực của hợp đồng giữa các bên. Việc đăng ký cần được xác định nhằm công khai thông tin và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba, không làm mất hiệu lực của hợp đồng giữa các bên trong trường hợp chưa đăng ký. Cùng với đó, cần đơn giản hóa thủ tục đăng ký trên môi trường điện tử và đánh giá tác động về thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp.

ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) phát biểu
ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) phát biểu

Cùng quan tâm đến Điều 148, ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) đề nghị rà soát thuật ngữ pháp lý tại khoản 5 Điều 1 của dự thảo Luật, sửa đổi khoản 2 Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ.

Theo đại biểu, dự thảo sử dụng cụm từ “có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba”. Để bảo đảm thống nhất với khoản 2 Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015, cần thay bằng cụm từ “có giá trị đối kháng với bên thứ ba”, qua đó thống nhất thuật ngữ pháp lý giữa hai luật, bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Liên quan đến thủ tục sửa đổi thông tin trên văn bằng bảo hộ tại Điều 97, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục này với hiệu lực chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 138.

Theo đại biểu, dự thảo cho phép bên chuyển nhượng hoặc bên nhận chuyển nhượng yêu cầu sửa đổi thông tin trên văn bằng bảo hộ. Tuy nhiên, đối với quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký, việc chuyển nhượng chỉ có hiệu lực khi được ghi nhận sửa đổi thông tin trên văn bằng bảo hộ. Vì vậy, đại biểu đề nghị Điều 97 dẫn chiếu rõ đến Điều 138, đồng thời quy định việc ghi nhận sửa đổi phải dựa trên tài liệu chứng minh giao dịch chuyển nhượng hợp pháp, tránh trường hợp một bên tự xác lập chuyển quyền khi chưa có đầy đủ căn cứ.

Đối với trường hợp chuyển nhượng một phần danh mục hàng hóa, dịch vụ, đại biểu đề nghị quy định rõ cơ chế tách văn bằng, cập nhật danh mục của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, cũng như liên kết dữ liệu giữa các văn bằng. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cấp cho bên nhận phải kế thừa ngày nộp đơn, ngày ưu tiên nếu có và thời hạn bảo hộ còn lại của đăng ký ban đầu, không làm phát sinh thời hạn bảo hộ mới.

Bên cạnh yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, đại biểu Trần Đức Thuận lưu ý việc bảo vệ bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh trong hoạt động sở hữu trí tuệ. Theo đại biểu, các quy định về sửa đổi văn bằng bảo hộ, chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp cần được rà soát, nhất là đối với những sáng chế, giải pháp kỹ thuật, công nghệ có liên quan đến bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh.

Nhấn mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính không được làm suy giảm yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước và kiểm soát việc chuyển giao công nghệ nhạy cảm, đại biểu đề nghị rà soát các Điều 97, 138 và 148; nghiên cứu bổ sung quy định dẫn chiếu, xác định rõ việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có liên quan đến bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh và pháp luật khác có liên quan.

Đơn giản hóa thủ tục phải gắn với trách nhiệm quản lý và kiểm chứng

Quan tâm đến việc kiện toàn đầu mối quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cho biết, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung 25/222 điều của Luật Sở hữu trí tuệ, tập trung vào đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và kiện toàn đầu mối quản lý nhà nước về bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) phát biểu
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) phát biểu

Tán thành định hướng sửa đổi nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định để bảo đảm tính đồng bộ, rõ ràng và khả thi trong thực hiện.

Góp ý điểm a khoản 1 Điều 1 của dự thảo sửa đổi Điều 11, đại biểu tán thành việc giao Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng. Tuy nhiên, việc chuyển đầu mối quản lý cần đi đôi với phân định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, nhất là trong các hoạt động khảo nghiệm, quản lý nguồn gen, chất lượng và lưu hành giống thuộc lĩnh vực chuyên môn nông nghiệp.

Đại biểu lưu ý, Báo cáo thẩm tra đã chỉ ra vướng mắc liên quan đến khoản 4 Điều 13 Luật Trồng trọt về việc cấp quyết định công nhận lưu hành đồng thời với cấp bằng bảo hộ giống cây trồng khi người đăng ký có đề nghị và đáp ứng đủ điều kiện. Nếu không xử lý đồng bộ, doanh nghiệp có thể phải thực hiện hai quy trình riêng biệt, cung cấp lại dữ liệu hoặc chờ đợi sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý.

Vì vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu sửa đổi đồng bộ quy định liên quan của Luật Trồng trọt; xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong khảo nghiệm, lưu giữ giống, chia sẻ dữ liệu và xử lý hồ sơ liên thông; đồng thời làm rõ trách nhiệm của UBND cấp tỉnh. Việc chuyển đầu mối quản lý phải thực sự giảm thủ tục cho người dân, doanh nghiệp, bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước liên tục, thông suốt.

Các ĐBQH dự thảo luận tại tổ
Các ĐBQH dự thảo luận tại tổ

Cùng quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, ĐBQH Lương Đình Hưng đề nghị nghiên cứu quy định số hóa toàn trình đối với thủ tục sửa đổi văn bằng bảo hộ khi chuyển nhượng nhãn hiệu; chuẩn hóa dữ liệu di truyền phục vụ việc xác định giống cây trồng dẫn xuất chủ yếu (EDV), cùng các dữ liệu liên quan đến tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định (DUS); đồng thời nghiên cứu ứng dụng nhật ký điện tử trong hoạt động khảo nghiệm giống cây trồng.

Đại biểu đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc các nội dung này trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật trước khi trình Quốc hội xem xét.

Góp ý khoản 15 Điều 1 của dự thảo sửa đổi Điều 178 về khảo nghiệm kỹ thuật phục vụ bảo hộ giống cây trồng, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú tán thành việc cho phép người đăng ký tự thực hiện khảo nghiệm và sử dụng kết quả khảo nghiệm kỹ thuật đã có nhằm giảm chi phí, tránh khảo nghiệm trùng lặp.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị phân biệt rõ khảo nghiệm DUS nhằm xác định tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định của giống cây trồng với việc đánh giá năng suất, chất lượng hoặc điều kiện lưu hành giống. Việc được cấp bằng bảo hộ không đồng nghĩa với việc giống cây trồng đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện để đưa vào sản xuất, kinh doanh.

Đặc biệt, đại biểu nhấn mạnh, cho phép người đăng ký tự khảo nghiệm không có nghĩa là cho phép tự xác nhận giống cây trồng đủ điều kiện được bảo hộ. Cơ quan quản lý nhà nước vẫn phải đánh giá tính đầy đủ, phù hợp và độ tin cậy của kết quả trước khi quyết định cấp bằng bảo hộ. Đại biểu đề nghị quy định rõ trách nhiệm này ngay tại Điều 178 để bảo đảm áp dụng thống nhất.

Đối với việc sử dụng kết quả khảo nghiệm kỹ thuật đã có, đại biểu đề nghị xác lập các tiêu chí khách quan về khả năng truy xuất vật liệu khảo nghiệm, phương pháp thực hiện, dữ liệu gốc, giống đối chứng và điều kiện khảo nghiệm. Khi yêu cầu khảo nghiệm bổ sung, cơ quan quản lý phải nêu rõ căn cứ chuyên môn và những nội dung còn thiếu; không mặc nhiên yêu cầu thực hiện lại toàn bộ quá trình khảo nghiệm nếu chỉ thiếu một phần dữ liệu.

Đối với hoạt động giám định sở hữu trí tuệ, góp ý khoản 21 Điều 1 của dự thảo sửa đổi Điều 201, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú tán thành việc bỏ quy định cấp phép, cấp thẻ, phù hợp với định hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Tuy nhiên, kết luận giám định sở hữu trí tuệ có thể tác động đến việc xử phạt vi phạm hành chính, giải quyết tranh chấp dân sự và xử lý vụ việc hình sự. Vì vậy, việc cắt giảm điều kiện, thủ tục cần đi đôi với bảo đảm chất lượng và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện giám định.

Đại biểu đề nghị ngay trong Luật cần xác lập các nguyên tắc tối thiểu về năng lực chuyên môn, tính độc lập, khách quan, không có xung đột lợi ích; đồng thời quy định cơ chế kiểm tra, hậu kiểm, đình chỉ hoạt động hoặc xóa thông tin đối với tổ chức vi phạm và biện pháp xử lý đối với kết luận giám định không bảo đảm chất lượng.

    Đơn giản hóa thủ tục sở hữu trí tuệ phải đi đôi với bảo đảm quyền lợi
    • Mặc định