Đón dòng vốn FDI chất lượng cao bằng hệ sinh thái công nghiệp
Khi dòng vốn FDI dịch chuyển về các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, lợi thế quỹ đất là chưa đủ. Khả năng đón và giữ dòng vốn sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, chuỗi cung ứng và khả năng đáp ứng năng lượng.
Nguồn cung thay đổi theo dòng vốn
Tính đến ngày 31/8/2026, Việt Nam thu hút 40,63 tỷ USD vốn FDI đăng ký, tăng 55,4% so với cùng kỳ; vốn thực hiện ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12%.
Tại tọa đàm “Bất động sản công nghiệp phía Nam: đón làn sóng FDI công nghệ cao và kiến tạo hệ sinh thái sản xuất mới” do Báo Công Thương tổ chức ngày 25/9, ông Lê Văn Thinh, Phó Trưởng Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HEPZA) cho biết, thành phố hiện có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 50.288ha. Trong 9 tháng năm nay, tổng vốn đầu tư trong và ngoài nước tại các khu chế xuất, khu công nghiệp đạt 5,57 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ; riêng vốn FDI đạt 4,27 tỷ USD, tăng 62%.
Đáng chú ý, dù số lượng dự án FDI cấp mới giảm, quy mô vốn lại tăng mạnh, điển hình là dự án Trung tâm dữ liệu AI tại Khu Công nghiệp Tân Phú Trung với tổng vốn 2,1 tỷ USD. Theo ông Thinh, xu hướng thu hút đầu tư đang chuyển từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Ở góc độ thị trường, Phó Chủ tịch Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam (VIREA) Trương Gia Bảo nhận định, bất động sản công nghiệp phía Nam trong nửa đầu năm 2026 vẫn duy trì nhu cầu tích cực, song yêu cầu đối với nguồn cung đang thay đổi.
Theo số liệu Cushman & Wakefield, đến quý II/2026, tổng nguồn cung đất công nghiệp khu vực đạt khoảng 36.063ha, tỷ lệ lấp đầy 76,3%. Nhu cầu đang hướng nhiều hơn tới công nghệ cao, điện tử, công nghiệp hỗ trợ, logistics và các ngành có giá trị gia tăng cao. Điều này đòi hỏi khu công nghiệp chuyển dần từ mô hình đa ngành sang chuyên ngành, sinh thái và thông minh. Chủ đầu tư không chỉ cung cấp quỹ đất mà cần phát triển hệ sinh thái hạ tầng, logistics, năng lượng, công nghệ, môi trường và dịch vụ hỗ trợ.
Cùng với nâng chất lượng từng khu công nghiệp, yêu cầu đặt ra ở quy mô vùng là tăng liên kết giữa các địa phương, kết nối giao thông, cảng, kho bãi, logistics, năng lượng và hạ tầng số, hình thành hệ sinh thái đủ khả năng tiếp nhận các dự án quy mô lớn, công nghệ cao.
Chuẩn bị hạ tầng, nhân lực và năng lượng
Từ yêu cầu mới của dòng vốn FDI, bài toán của phía Nam không chỉ là mở rộng quỹ đất mà phải chuẩn bị đồng bộ các điều kiện về hạ tầng, năng lượng, nguồn nhân lực và chuỗi cung ứng để nhà đầu tư có thể triển khai và vận hành dự án nhanh, ổn định.
Ông Nguyễn Trường Thi, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh thông tin, 9 tháng năm 2026, chỉ số công nghiệp của thành phố tăng khoảng 11%, dự kiến cả năm tăng hơn 12%, tập trung vào chế biến, chế tạo.
Sau hợp nhất, TP. Hồ Chí Minh có thêm lợi thế về công nghiệp, tài chính, năng lượng tái tạo và logistics. Thành phố đang chuẩn bị quy hoạch lại khu, cụm công nghiệp, định hướng đến năm 2030 tái cơ cấu các khu hiện trạng, phân bổ các khu mới về hướng Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, gắn với các tuyến vành đai 3, 4, 5. TP. Hồ Chí Minh cũng phấn đấu chuẩn bị 6.500 - 6.800ha đất sạch có hạ tầng hoàn chỉnh giai đoạn 2025 - 2030; đồng thời nghiên cứu nhân rộng mô hình nhà xưởng cao tầng nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất.
Bên cạnh mặt bằng và hạ tầng, chất lượng nhân lực và năng lực cung ứng trong nước cũng là điều kiện để thu hút FDI công nghệ cao và tăng mức độ liên kết với doanh nghiệp Việt.
Tổng Giám đốc Công ty TNHH Electronic Tripod Việt Nam Lữ Chính Minh cho rằng, cần tăng phối hợp giữa doanh nghiệp và nhà trường để đào tạo nhân lực sát nhu cầu; tạo điều kiện để chuyên gia nước ngoài và kỹ sư Việt Nam cùng làm việc, từng bước làm chủ công nghệ, quy trình và quản lý chất lượng.
Đối với chuỗi cung ứng, ông Minh đề xuất thúc đẩy nội địa hóa từng bước, trước mắt tập trung vào những lĩnh vực doanh nghiệp Việt đã có khả năng đáp ứng như bao bì, vật tư tiêu hao, bảo trì, sửa chữa và dịch vụ kỹ thuật.
Với các dự án công nghệ cao, năng lượng là điều kiện được nhà đầu tư quan tâm ngay từ khi khảo sát địa điểm. Theo ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), hệ thống điện phía Nam hiện có tổng công suất gần 37.000MW, trong khi công suất cực đại năm 2026 khoảng 22.000MW.
Để đón đầu nhu cầu, EVNSPC đã thống nhất đầu tư cấp điện cho 7 khách hàng công nghiệp lớn, tổng công suất đăng ký 460,4MW, chủ yếu tại TP. Đồng Nai, dự kiến đóng điện trong quý III và IV/2027. EVNSPC xác định “hạ tầng điện đi trước một bước”, phối hợp với chủ đầu tư từ giai đoạn quy hoạch.
Cùng với điện ổn định, điện xanh ngày càng quan trọng với các dự án công nghệ cao. Hiện 933 đơn vị tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp đã lắp điện mặt trời mái nhà với tổng công suất 845MWp.
Những bước chuẩn bị về đất đai, hạ tầng, nhân lực, chuỗi cung ứng và năng lượng sẽ quyết định khả năng của khu vực phía Nam trong tiếp nhận và giữ chân dòng vốn, nhất là các dự án quy mô lớn, công nghệ cao.

