Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước và vai trò người đại diện
Vấn đề quản lý và sử dụng nguồn vốn tại các doanh nghiệp hiện nay đang được đặt ra mạnh mẽ, nhất là khi Nhà nước đang có 492 người đại diện vốn tại 420 doanh nghiệp thuộc danh mục đầu tư của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Vậy vấn đề quản lý vốn nhà nước đang được kiểm soát như thế nào, hạn chế của nó là gì, trách nhiệm của người đại diện ra sao trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước?
|
|
Mô hình hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước đã được thực hiện 6 năm nay và có những thành công nhất định. Theo Tổng giám đốc Lại Văn Đạo, tới nay với tư cách là cổ đông, Tổng công ty đã triển khai các hoạt động tư vấn, giám sát, quản trị góp phần giúp các doanh nghiệp có vốn nhà nước nâng cao hiệu quả trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này cũng được ông Lê Hữu Phước, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần du lịch Tây Ninh đánh giá qua thực tế hoạt động của nhiều công ty sau cổ phần. Tuy vậy, với trách nhiệm của người đại diện vốn tại doanh nghiệp rất lớn như hiện nay, nếu như không hoàn thành nhiệm vụ hay làm thất thoát vốn tại doanh nghiệp sẽ bị ngưng ủy quyền hay cần thiết sẽ khởi kiện, thì ông Lê Hữu Phước cho rằng, quyền lợi của người đại diện cần phải xem xét thỏa đáng, nếu muốn họ thực hiện tốt vai trò của người đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp. Vì vậy, quy chế người đại diện sẽ cần sửa đổi để bảo đảm quyền đi đôi với nghĩa vụ.
Nhấn mạnh đến vai trò của người đại diện trong công tác quản trị doanh nghiệp, theo Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Du lịch Việt Nam - Hà Nội Lưu Nhân Vinh, sau khi cổ phần hóa từ năm 2007, công ty đã làm ăn có hiệu quả hơn, bình quân cổ tức trả cho cổ đông công ty 5 năm qua là 14,5%, đặc biệt năm 2011 cổ tức trả cho cổ đông là 16,7%. Như vậy, với vai trò là quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chủ yếu thông qua người đại diện. Do đó, quy chế người đại diện từng bước được hoàn thiện. Tuy nhiên tới nay, người đại diện vẫn còn khó khăn khi thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao, chưa giải quyết hài hòa quyền lợi giữa các nhóm cổ đông, cá biệt còn có trường hợp thực hiện không đúng các quy định. Để hoàn thiện vấn đề này, theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu, đối với những doanh nghiệp cổ phần, vấn đề đặt ra là từ nay đến cuối năm, quy chế người đại diện, phối hợp như thế nào, trả lương như thế nào, lấy nguồn nào để trả cho người đại diện? Tiến tới phải sắp xếp tại 420 doanh nghiệp có vốn nhà nước, có vai trò của người đại diện. Để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, thì quyền của người đại diện cũng cần được bảo vệ, kể cả khi bán hết vốn rồi thì quyền lợi của người đại diện cũng phải được bảo vệ.
Để người đại diện có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, thì yêu cầu về tính công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng nguồn vốn cũng được các chuyên gia và nhà quản lý nói tới nhiều, nhưng thực hiện được điều này còn thực sự khó khăn. Cái khó bắt đầu ngay từ sự chưa rõ ràng về mặt pháp lý của Tổng công ty. Theo đó, cần tách bạch giữa việc quản lý và đầu tư vốn nhà nước và vai trò giám sát nội bộ đặt ra đối với công tác quản lý nguồn vốn rất quan trọng. Nó quyết định tới sức mạnh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Vấn đề này cũng được nhiều chuyên gia kinh tế, pháp luật bàn thảo và đưa ra những giải pháp cụ thể.
Vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng, vốn Nhà nước cần tiếp tục được tái cơ cấu để tập trung vào những ngành nghề, lĩnh vực Nhà nước cần đầu tư. Đồng thời, quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi của đại diện chủ sở hữu và người đại diện trên cơ sở phân cấp cụ thể cũng sẽ cần phải được làm rõ. Trước mắt, có thể một cơ chế thí điểm sẽ được thực hiện khi cho phép Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trực tiếp cử, trả lương, thực hiện chính sách cán bộ đối với người đại diện. Bên cạnh đó, cũng cần có quy chế điều chỉnh mối quan hệ giữa cán bộ của Tổng công ty và người đại diện và hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước – người đại diện với các địa phương, nghiên cứu để pháp lý hóa mối quan hệ phối hợp này, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước.


