Dấu ấn Việt Nam trên bản đồ đổi mới sáng tạo toàn cầu
Việt Nam xếp thứ 43/139 quốc gia, nền kinh tế trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026, tăng tới 16 bậc trong một thập niên qua. Kết quả này không chỉ khẳng định Việt Nam trong nhóm các nền kinh tế có thành tích ĐMST vượt trội so với trình độ phát triển, mà còn cho thấy những chuyển động rõ nét trong việc triển khai, cụ thể hóa Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị.
Tăng 16 bậc trong một thập niên
Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (ĐMST) toàn cầu 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố ngày 29/9, Việt Nam xếp thứ 43/139 quốc gia, nền kinh tế.
Nhìn trong hành trình dài hơn, vị trí hiện nay cho thấy bước tiến đáng kể của Việt Nam trên bản đồ ĐMST thế giới. Từ năm 2016 - 2026, tăng 16 bậc. Điều đáng nói, không chỉ tăng thứ hạng tổng thể, cơ cấu kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo - GII 2026 còn cho thấy Việt Nam có hai chỉ số đứng đầu thế giới, gồm tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Cùng với đó, có ba chỉ số khác cũng nằm trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu gồm: Tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao, xếp thứ 3; số lượng ứng dụng điện thoại thông minh được phát triển và sử dụng, xếp thứ 5; tốc độ tăng năng suất lao động, xếp thứ 6.
.jpg)
Đặc biệt, Việt Nam tiếp tục được WIPO ghi nhận là một trong những nền kinh tế có thành tích ĐMST cao hơn so với mức độ phát triển. Trong 16 năm liên tiếp, kết quả ĐMST của Việt Nam vượt mức kỳ vọng tương ứng với trình độ phát triển; năm 2026, Việt Nam nằm trong nhóm 3 quốc gia được ghi nhận nổi bật ở khía cạnh này cùng Trung Quốc và Ấn Độ.
Những con số trên cho thấy hiệu quả chuyển hóa từ nguồn lực đầu vào sang đầu ra ĐMST đang được cải thiện. Đây cũng là điểm đáng chú ý khi đầu ra ĐMST của Việt Nam năm 2026 xếp thứ 35 thế giới, cao hơn đáng kể so với thứ hạng chung.
Một trong những nền tảng chính sách quan trọng tạo thêm động lực cho quá trình này là Nghị quyết số: 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định KHCN, ĐMST và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Từ định hướng đó, cách tiếp cận đối với KHCN, ĐMST đang có sự chuyển dịch, từ quản lý nặng về đầu vào sang chú trọng kết quả đầu ra và hiệu quả thực chất; đồng thời tập trung hoàn thiện thể chế, tăng nguồn lực cho R&D, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, thu hút các dự án công nghệ cao và công nghệ chiến lược.
Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) là bộ công cụ đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia có uy tín trên thế giới, phản ánh mô hình phát triển kinh tế - xã hội dựa trên KHCN, ĐMST của các quốc gia. Qua đó, các quốc gia sẽ thấy được bức tranh tổng thể cũng như các điểm mạnh, điểm yếu của mình.
Từ vị trí 43 đến mục tiêu vào nhóm dẫn đầu
Theo Chiến lược phát triển KHCN, ĐMST được phê duyệt tại Quyết định số: 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026, Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về GII năm 2030. Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về ĐMST.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho rằng, để đạt được 2 mục tiêu trên, trước hết cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược và đội ngũ có trình độ sau đại học. Việt Nam cũng cần đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và gia tăng số lượng bằng sáng chế, những sản phẩm liên quan trực tiếp đến năng lực ĐMST.
“Điều quan trọng là sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động ĐMST, nghiên cứu và phát triển. Các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa, cả về tài chính và con người, từng bước đưa công nghệ và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị và tăng năng suất lao động. Chỉ khi doanh nghiệp thực sự vào cuộc, Việt Nam mới có thể đạt các mục tiêu về ĐMST đến năm 2030 và 2045”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhấn mạnh.
Với vai trò cơ quan đầu mối theo dõi và điều phối cải thiện GII, Bộ Khoa học và Công nghệ đang tiếp tục hoàn thiện thể chế từ yêu cầu thực tiễn; thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thu hút các tập đoàn quốc tế thành lập trung tâm R&D, mở rộng đầu tư vào công nghệ cao và công nghệ chiến lược tại Việt Nam. Các nhiệm vụ khác gồm thu hút vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên công nghệ; hình thành các cụm và liên kết ĐMST; phát triển doanh nghiệp công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, hấp thụ và làm chủ công nghệ nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Có thể thấy, bài toán tiếp theo của GII không chỉ là “tăng hạng”, mà quan trọng hơn là nâng chất lượng thực chất của hệ sinh thái ĐMST, biến những lợi thế hiện nay về sản xuất, xuất khẩu công nghệ cao thành năng lực tự chủ về nghiên cứu, công nghệ và sản phẩm có hàm lượng tri thức cao hơn.
Trong bối cảnh đó, Ngày hội ĐMST quốc gia năm 2026 diễn ra vào thời điểm đặc biệt có ý nghĩa. Các hoạt động trong ngày hội không chỉ là dịp nhìn lại thành quả ĐMST, mà còn mở ra không gian để nhận diện rõ hơn những điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Từ vị trí thứ 43 thế giới hiện nay đến mục tiêu top 40 vào năm 2030 và top 30 vào năm 2045, yêu cầu đặt ra là phải biến tinh thần ĐMST thành hành động cụ thể trong từng cơ quan, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và trong toàn xã hội. Khi ĐMST thực sự được kết nối với thị trường, doanh nghiệp, nguồn vốn và nhu cầu phát triển, thứ hạng GII sẽ không chỉ là một vị trí trên bảng xếp hạng quốc tế, mà còn là thước đo cho năng lực tạo ra những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế Việt Nam.

