Đại học Quốc gia Hà Nội: Xây dựng hệ sinh thái phòng thí nghiệm dùng chung tại Hòa Lạc
PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Đổi mới sáng tạo ĐHQGHN, đây là thời điểm cần nghiên cứu một cách tiếp cận mới: Từ đầu tư cho từng phòng thí nghiệm riêng lẻ sang hình thành hệ sinh thái phòng thí nghiệm dùng chung, trong đó hạ tầng, thiết bị, dữ liệu, đội ngũ kỹ thuật và năng lực nghiên cứu được kết nối thành một hệ thống mở.
Trao đổi với báo chí PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Đổi mới sáng tạo ĐHQGHN cho biết, trong khoa học và công nghệ, một thiết bị hiện đại chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được vận hành tốt và có nhiều người có thể tiếp cận, khai thác. Nếu mỗi phòng thí nghiệm được đầu tư và vận hành tương đối độc lập, nguồn lực có thể bị phân tán, thậm chí xảy ra tình trạng đầu tư trùng lặp trong khi một số thiết bị chưa được khai thác hết công suất.
Bên cạnh chi phí đầu tư ban đầu, các phòng thí nghiệm hiện đại còn cần nguồn lực thường xuyên cho vận hành, vật tư, bảo trì, hiệu chuẩn, quản lý chất lượng và đội ngũ kỹ thuật chuyên nghiệp. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ thiết bị và hiệu quả khai thác.
Trong khi đó, các bài toán khoa học, công nghệ ngày càng có tính liên ngành. Một nhóm nghiên cứu vật liệu có thể cần hệ thống phân tích chuyên sâu; nghiên cứu bán dẫn cần phòng sạch, vi chế tạo và thiết bị đo kiểm; trí tuệ nhân tạo cần năng lực tính toán và dữ liệu; công nghệ sinh học cần hệ thống giải trình tự, phân tích và ngân hàng sinh học.
Nếu những năng lực này được tổ chức thành một hệ thống mở, thay vì nằm tách biệt ở từng đơn vị, chúng ta sẽ có thêm khả năng chia sẻ nguồn lực và nâng cao hiệu quả khai thác.

Sẽ hình thành "ba lớp" trong hệ sinh thái
- Thưa ông, vậy Hòa Lạc có những điều kiện gì để có thể nghiên cứu, triển khai mô hình này?
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm: Hòa Lạc đang hình thành một không gian tập trung nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ. Riêng ĐHQGHN hiện có 50 nhóm nghiên cứu mạnh, 6 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp ĐHQGHN, 1 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp Nhà nước, 1 trung tâm nghiên cứu trọng điểm cấp ĐHQGHN cùng khoảng 5.563 cán bộ khoa học; trong đó 61% có trình độ tiến sĩ và 631 giáo sư, phó giáo sư.
ĐHQGHN cũng đang quy hoạch 14 trung tâm xuất sắc và 5 nhóm hạ tầng dùng chung giai đoạn 2026-2030, với các định hướng như siêu máy tính và điện toán đám mây; phòng sạch và vi chế tạo; phân tích cấu trúc và vật liệu cao cấp; ngân hàng sinh học và giải trình tự gen; thực tế ảo, tăng cường và số hóa không gian di sản.


Cùng với nguồn lực của ĐHQGHN, Hòa Lạc còn có sự hiện diện của các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, tổ chức đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ. Đây là những điều kiện thuận lợi để nghiên cứu một mô hình liên kết và chia sẻ hạ tầng.
Tuy nhiên, tôi cho rằng lợi thế về không gian và nguồn lực mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là phải có mô hình tổ chức và vận hành phù hợp.
-Vậy hệ sinh thái phòng thí nghiệm dùng chung tại Hòa Lạc sẽ được tổ chức như thế nào, thưa ông?
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm: Tôi hình dung hệ sinh thái này có thể gồm ba lớp. Lớp thứ nhất là hạ tầng nghiên cứu và thử nghiệm lõi, gồm các phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu – thử nghiệm, thiết bị có giá trị đầu tư lớn, nền tảng tính toán – dữ liệu, hệ thống đo kiểm và các cơ sở có yêu cầu cao về an toàn, tiêu chuẩn.
Lớp thứ hai là nền tảng điều phối và vận hành dùng chung. Đây là phần rất quan trọng, bởi một hệ thống chỉ thực sự “dùng chung” khi người có nhu cầu biết ở đâu có thiết bị phù hợp, năng lực của thiết bị đến đâu, điều kiện sử dụng thế nào và có thể đăng ký ra sao.
Vì vậy, cần từng bước xây dựng một nền tảng số quản lý danh mục thiết bị và năng lực nghiên cứu, lịch sử sử dụng, hồ sơ kỹ thuật, bảo trì – hiệu chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng và nhu cầu từ doanh nghiệp. Những thông tin phù hợp cần được công khai để cộng đồng nghiên cứu có thể tiếp cận thuận lợi hơn.
Lớp thứ ba là mạng lưới doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và kết nối quốc gia. Phòng thí nghiệm dùng chung không nên chỉ phục vụ nghiên cứu hàn lâm mà còn cần đáp ứng các nhu cầu thực tế như đo kiểm, thử nghiệm, chế tạo mẫu, đặt hàng R&D, đào tạo kỹ thuật, ươm tạo công nghệ và chuyển giao.

"Một đầu mối vận hành – nhiều bên đồng quản trị"
- Như vậy, liệu có nảy sinh phức tạp khi có nhiều đơn vị cùng tham gia. ĐHQGHN sẽ có giải pháp gì và ai sẽ quản lý và vận hành hệ sinh thái này?
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm: Theo tôi, có thể nghiên cứu nguyên tắc "một đầu mối vận hành – nhiều bên đồng quản trị". ĐHQGHN có thể là đầu mối vận hành đối với những hạ tầng được giao và những lĩnh vực có năng lực phù hợp. Nhưng điều đó không có nghĩa ĐHQGHN phải "sở hữu" hay "ôm" toàn bộ hệ sinh thái.
Các viện, trường, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý liên quan cần có vai trò phù hợp trong việc xác định nhu cầu, khai thác hạ tầng, đặt hàng nghiên cứu và định hướng phát triển. Một cơ chế điều phối đa bên có thể được nghiên cứu để cùng xác định danh mục đầu tư, hạn chế trùng lặp và giám sát hiệu quả hoạt động.
Điều quan trọng là phải phân định rõ quyền đại diện chủ sở hữu tài sản, quyền quản lý – vận hành, quyền sử dụng và quyền quyết định chiến lược. Mục tiêu là tập trung về vận hành nhưng mở về sử dụng và có sự tham gia của nhiều bên trong quản trị chiến lược.

-Với một hệ thống dùng chung như vậy, bài toán tài chính và đánh giá hiệu quả sẽ được giải quyết ra sao?
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm: Với một phòng thí nghiệm hiện đại, chi phí không dừng ở việc mua thiết bị. Cần tính đến toàn bộ vòng đời từ đầu tư, lắp đặt, vận hành, vật tư, bảo trì, hiệu chuẩn, quản lý chất lượng đến nâng cấp và thay thế.
Vì vậy, bên cạnh ngân sách nhà nước cho hạ tầng lõi và các nhiệm vụ chiến lược, cần từng bước hình thành cơ chế huy động nguồn lực từ doanh nghiệp thông qua đặt hàng, hợp tác và đồng đầu tư phù hợp.
Doanh thu từ dịch vụ có thể góp phần duy trì và nâng cấp hạ tầng, nhưng phải được quản lý minh bạch và tuân thủ quy định hiện hành hoặc cơ chế thí điểm được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đặc biệt trong giai đoạn đầu, cần bảo đảm kinh phí vận hành, bảo trì – hiệu chuẩn và đội ngũ kỹ thuật, thay vì chỉ tập trung vào đầu tư mua sắm thiết bị.
-Theo ông, hiệu quả của hệ sinh thái này nên được đo bằng những tiêu chí nào?
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm: Không nên chỉ nhìn vào giá trị thiết bị được mua sắm hay số lượng phòng thí nghiệm được xây dựng. Câu hỏi quan trọng hơn là những hạ tầng đó được khai thác như thế nào và tạo ra những kết quả gì.
Có thể tập trung vào sáu nhóm chỉ số: mức độ khai thác thiết bị và số lượng đơn vị cùng sử dụng; kết quả nghiên cứu như nhiệm vụ, công bố, sáng chế, mẫu thử; mức độ tham gia của doanh nghiệp và giá trị hợp đồng; hoạt động đào tạo nhân lực; hiệu quả tài chính; và tác động đối với các lĩnh vực khoa học, công nghệ chiến lược cũng như hợp tác quốc tế.
Một thiết bị được sử dụng hiệu quả bởi nhiều nhóm nghiên cứu, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm hoặc góp phần đào tạo đội ngũ kỹ thuật sẽ có giá trị lớn hơn nhiều so với một thiết bị có giá trị đầu tư cao nhưng ít được khai thác.
Bước chuyển từ "có hạ tầng" sang "tạo ra năng lực"
-Nếu triển khai, đâu là những việc có thể bắt đầu ngay tại Hòa Lạc? và ông kỳ vọng điều gì từ mô hình này?
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm: Trước mắt có thể rà soát năng lực và lập danh mục hạ tầng; xây dựng quy chế chia sẻ; chuẩn hóa quy trình an toàn, chất lượng; xây dựng nền tảng số; xác định nhu cầu đầu tư theo các công nghệ chiến lược và triển khai những hợp tác đầu tiên với doanh nghiệp.
Một số nội dung cần được thí điểm, nhất là cơ chế vận hành tài sản dùng chung giữa nhiều cơ quan, sử dụng nguồn thu dịch vụ để duy trì và nâng cấp hạ tầng, cơ chế giá và chính sách thu hút đội ngũ kỹ thuật chuyên nghiệp.
Đối với những vấn đề liên quan đến giao và quản lý tài sản công giữa nhiều chủ thể, tài chính vòng đời, đầu tư liên cơ quan hoặc những nội dung vượt quá quy định hiện hành, cần được nghiên cứu kỹ về pháp lý và trình cấp có thẩm quyền xem xét.
Điều quan trọng là Hòa Lạc không nên trở thành một cụm phòng thí nghiệm khép kín. Hệ sinh thái cần kết nối với các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và doanh nghiệp ở những địa phương khác, qua đó trở thành một mắt xích trong mạng lưới hạ tầng nghiên cứu của cả nước.
Cơ hội của Hòa Lạc không nằm đơn thuần ở việc có thêm những phòng thí nghiệm hiện đại, mà ở khả năng biến những nguồn lực đang có thành một năng lực chung.

Khi đó, giá trị của hạ tầng không còn được đo chủ yếu bằng diện tích, số lượng thiết bị hay tổng mức đầu tư, mà bằng số nhóm nghiên cứu được phục vụ, số công nghệ được phát triển, số doanh nghiệp được hỗ trợ, nguồn nhân lực được đào tạo và những đóng góp cụ thể cho khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội.
Đó là bước chuyển từ "có hạ tầng" sang "tạo ra năng lực", để hạ tầng nghiên cứu tại Hòa Lạc không chỉ phục vụ một đơn vị hay một địa bàn, mà có thể trở thành một phần của năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
- Trân trọng cảm ơn PGS.TS Trương Ngọc Kiểm!

