Cuộc kiến tạo vĩ đại vị thế, sức mạnh và uy tín Việt Nam
Lịch sử dân tộc không phải là những lát cắt rời rạc mà là dòng chảy liên tục của khát vọng độc lập và tự cường: Từ năm 938 với Bạch Đằng Giang tới 1076 với “Nam quốc sơn hà” trên phòng tuyến Như Nguyệt, qua năm 1388 kết thúc ba lần đánh bại giặc Nguyên, đến 1428 bình Minh với Đại cáo Bình Ngô và ngày 7/5/1954 kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống Pháp với Điện Biên Phủ lừng lẫy…

Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
(30/4/1975 - 30/4/2026)
Từ Đại thắng mùa Xuân 1975 đến 2045: Cuộc kiến tạo vĩ đại vị thế, sức mạnh và uy tín Việt Nam
TS. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
Lịch sử dân tộc không phải là những lát cắt rời rạc mà là dòng chảy liên tục của khát vọng độc lập và tự cường: Từ năm 938 với Bạch Đằng Giang tới 1076 với “Nam quốc sơn hà” trên phòng tuyến Như Nguyệt, qua năm 1388 kết thúc ba lần đánh bại giặc Nguyên, đến 1428 bình Minh với Đại cáo Bình Ngô và ngày 7/5/1954 kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống Pháp với Điện Biên Phủ lừng lẫy…
Và, ngày 30/4/1975, không chỉ là một mốc son chói lọi về chiến tranh Nhân dân vệ quốc mà là khoảnh khắc dân tộc Việt Nam trong tư thế của người làm chủ hoàn toàn vận mệnh quốc gia thống nhất.
Hội tụ của bản lĩnh quật cường và rực rỡ nhân văn Việt Nam
Lịch sử càng không phải chỉ là những con số vô hồn trên tờ lịch mà là dòng chảy của huyết quản cha ông thấm trong đất đai, là sự cộng hưởng của hàng triệu nhịp đập khát vọng độc lập tự do và thống nhất giang sơn.
Ngày 30/4/1975, khi chiếc xe tăng mang số hiệu 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, là khoảnh khắc dân tộc Việt Nam tái sinh trong tư thế của người làm chủ hoàn toàn vận mệnh. Chiến thắng ấy đã chấm dứt hơn một thế kỷ đắm chìm trong vòng nô lệ, nối liền dải non sông từ địa đầu Lũng Cú đến đất Mũi Cà Mau. Đó là sự hội tụ của bản lĩnh quật cường và rực rỡ nhân văn Việt Nam.
Ngày 30/4/1975 là sự kết tinh của sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.
Chiến thắng quân sự mới chỉ là một nửa chặng đường. Giành độc lập đã khó, giữ độc lập và biến độc lập thành cơm ăn, áo mặc, thành phẩm giá con người còn khó gấp vạn lần.

Bước ra khỏi hào quang chiến thắng, chúng ta đối mặt với một thực tế khắc nghiệt: hơn 4 triệu người chết và bị thương, hàng triệu hecta đất đai bị tàn phá bởi chất độc hóa học, và một nền kinh tế kiệt quệ sau bao năm bị bao vây, cấm vận.
Từ mốc 30/4 ấy, Việt Nam bước vào một cuộc trường chinh mới: Từ đống tro tàn chiến tranh đến kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh. Ngay sau tiếng súng vừa tắt là tiếng thở dài của những cánh đồng thiếu phân bón, của những nhà máy thiếu dầu, của những đôi mắt trẻ thơ khao khát sách vở. Chúng ta vừa chiến thắng ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền, nhưng lại đứng trước nguy cơ thua trận trong cuộc chiến chống đói nghèo, nếu không thay đổi tư duy, không vượt lên chính mình. Bài học năm 1975 dạy chúng ta rằng: Đoàn kết là chìa khóa, nhưng thực tiễn mới là thước đo của chân lý.
Nhìn lại nửa thế kỷ trước, chúng ta thấy một Việt Nam vừa ngẩng cao đầu kiêu hãnh vừa đầy rẫy vết thương. Đó là sự tương phản giữa cái tĩnh của một đất nước thống nhất về địa lý và cái động của một nền kinh tế đang rệu rã, kiệt quệ vì bị bao vây, cấm vận.
Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp dù có vai trò trong thời chiến nhưng đã bộc lộ sự xơ cứng trong thời bình. Những năm đầu thập kỷ 80, lạm phát có lúc lên tới 774,7% (năm 1986). Người dân xếp hàng chờ đợi từng cân gạo. Đất nước bị bao vây, cấm vận ngặt nghèo. Đất nước bước ra khỏi cuộc chiến với đôi bàn tay trắng nhưng trái tim rực lửa. Hòa bình là sự bắt đầu của một cuộc chiến mới: Cuộc chiến chống nghèo nàn và lạc hậu.
Chính trong cái khó, những mô hình "khoán chui" ở Vĩnh Phú, những thử nghiệm ở Long An, TP. Hồ Chí Minh trở thành những “đốm lửa” chuẩn bị cho cuộc đại cách mạng về tư duy tại Đại hội VI của Đảng ta (1986). Nếu năm 1975 là sự giải phóng về lãnh thổ, thì năm 1986 là sự giải phóng về tư duy, là sự "tự phủ định để tự khẳng định". Đảng ta đã dũng cảm nhìn vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật. Đây là cuộc cách mạng trong lòng cách mạng.
Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mà là thay đổi phương thức đi tới mục tiêu đó. Đổi mới không phải là từ bỏ lý tưởng, mà là làm cho lý tưởng sống động trong thực tiễn. Đó là sự chuyển mình từ kinh tế kế hoạch hóa quan liêu sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây là bước ngoặt mang tính biện chứng: Khi "cái cũ" đã trở thành xiềng xích kìm hãm sức sản xuất, thì "cái mới" phải ra đời như một tất yếu lịch sử. 40 năm qua, Việt Nam không chỉ thoát nghèo, mà còn trở thành một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đó là minh chứng cho một Đảng biết lắng nghe hơi thở của Nhân dân.
Đảng ta, bằng bản lĩnh của một đội tiên phong, đã dũng cảm thực hiện cuộc "tự phẫu thuật" tại Đại hội VI. Đó là sự trở về với thực tiễn. Đảng biết lắng nghe hơi thở của Nhân dân giải phóng sức dân và dõi theo nhịp đập của thời đại. Mở cửa không chỉ là mở biên giới, mà là mở tư duy. Việt Nam đã khéo léo kết hợp giữa "bàn tay hữu hình" của Nhà nước và "bàn tay vô hình" của thị trường, giữa bản sắc dân tộc và tinh hoa nhân loại.
Đổi mới vì thế không phải là sự lựa chọn mang tính ngẫu nhiên mà là cuộc "vượt thoát" khỏi sự xơ cứng của tư duy duy ý chí, tự làm mới chính mình để không bị lịch sử đào thải. Đảng ta đổi mới không phải vì từ bỏ mục tiêu XHCN, mà là để nhân lên sức sống hiện thực cho mục tiêu đó trên nền tảng sức mạnh Nhân dân.
Nhìn lại năm 1986, lạm phát phi mã tới 774,7%, Dân đói, kho tàng trống rỗng. Nếu không có Đại hội VI, không có bản lĩnh "nhìn thẳng vào sự thật", không có một Việt Nam hiện nay với quy mô GDP nằm trong top 35 quốc gia có nền kinh tế mạnh trên thế giới. Đây là sự "tự cứu mình" bằng trí tuệ. Trên nền dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin hóa thân trong thực tiễn sinh động của Việt Nam.
Từ một nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã thực hiện bước chuyển mình vĩ đại. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quy mô kinh tế Việt Nam năm 2025 đã đạt khoảng 502 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới. Và, kết thúc quý I/2026 ước đạt tốc độ tăng trưởng 7,83%. Chân lý nằm ở “bát cơm” của Nhân dân, ở sự xoay vần của vận mệnh dân tộc từ đói nghèo sang vị thế tự chủ.
Khi Đảng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nhóm "lò nóng" và tự chặt bỏ những "cành và cây củi mục" để bảo vệ cái gốc Nhân dân, thì không nghi ngờ gì, đó chính là Đảng của Nhân dân đầy bản lĩnh và tầm viễn kiến. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% xuống dưới 3%; vị thế quốc gia trên trường tế ngày càng tỏa sáng. Đó là những con số biết nói. Chỉ số Phát triển con người (HDI) liên tục tăng, thuộc nhóm cao nhất trong các nước có cùng mức thu nhập và hoàn thành các mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc trước thời hạn. Chúng ta không hy sinh an sinh xã hội để đổi lấy tăng trưởng đơn thuần. Sự ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh thế giới đầy biến động há chẳng phải là sự ưu việt của mô hình mà chúng ta đã chọn. Đó chính là ánh sáng và tự nó xua tan mọi luận điệu cho rằng đổi mới là "sai lầm" hay "chệch hướng".
Sức mạnh của đổi mới là sức mạnh của dân tộc mang tầm nhìn thế giới. Lý tưởng của Đảng càng thực sự sống động khi nó cùng nhịp thở với Nhân dân. Đảng không sợ khuyết điểm. "Lửa tỏa nóng" không chỉ là quyết tâm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đủ loại mà để giữ cái gốc đạo đức, bảo vệ ý Đảng và lòng Dân thành một khối thống nhất bất khả xâm phạm.
Không ai không thấy, Nhân dân với tư thế người chủ công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo như một lẽ phát triển đất nước tự nhiên và đo bằng sự thụ hưởng thực tế. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ vài chục USD (1986) lên mức 5.026 USD (năm 2025) và kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 920 tỷ USD. Nếu GDP năm 1989 chỉ khoảng 6,3 tỷ USD, thì năm 2025 đạt hơn 510 tỷ USD. Và, đến năm 2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 193 quốc gia, là Đối tác Chiến lược Toàn diện với 14 cường quốc hàng đầu thế giới, trong đó với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
Tròn 40 năm Đổi mới, đất nước từ phá vây đến hội nhập thần tốc, với cường độ và trình độ mới. Từ một quốc gia không có tên trên bản đồ kinh tế thế giới, Việt Nam thực hiện một bước nhảy vọt vĩ đại mà bạn bè quốc tế gọi là "phép màu Đông Á".
Bài học sau 51 năm, từ năm 1975 dạy chúng ta rằng: Hòa bình không phải là đích đến cuối cùng mà là bệ phóng để dân tộc thực hiện cuộc “hóa rồng”.
Thể chế là động lực, con người là trung tâm, văn hóa là nền tảng
Năm 2026, Đại hội XIV của Đảng đánh dấu một chương mới. Nếu năm 1975 là Độc lập, năm 1986 là Đổi mới, thì năm 2026 chính là khởi đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Chúng ta bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh,trước "thời điểm vàng" để “hóa rồng”, với tầm nhìn chiến lược: Năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Việt Nam trở thành quốc gia có chính trị ổn định - kinh tế phồn vinh - văn hóa rạng rỡ - quốc phòng vững mạnh. Đó không phải là một khẩu hiệu suông, mà là mệnh lệnh lịch sử. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải bứt phá và tránh được "bẫy thu nhập trung bình" để hướng tới mục tiêu năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để làm được điều đó, phải nắm bắt được con tàu Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, làm chủ công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và kinh tế xanh…
Để kiến tạo kỷ nguyên mới, cần chủ động nắm lấy 3 “mũi giáp công” mang tính sống còn:
Thứ nhất, thể chế là động lực: Kỷ nguyên này phải là kỷ nguyên của quản trị thông minh và tự do sáng tạo. Chỉ khi thể chế đủ rộng để bao dung những ý tưởng mới, quốc gia mới có thể cất cánh. Phải xóa bỏ tư duy quản lý kiểu mệnh lệnh, "xin - cho", xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch, kiến tạo. Loại bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Thể chế phải là “đường cao tốc” cho sức sáng tạo của Nhân dân và doanh nghiệp.
Thứ hai, con người là trung tâm: Đầu tư cho giáo dục và khoa học, công nghệ không phải là “bao cấp” mà là đầu tư cho tương lai. Xây dựng và phát triển đội ngũ những hiền tài dám nghĩ, dám làm, dám đột phá ngang tầm đại sự phát triển.
Thứ ba, văn hóa là nền tảng: "Văn hóa còn thì dân tộc còn". Một Việt Nam phát triển, giàu mạnh phải dựa trên nền tảng bản sắc dân tộc, lấy sức mạnh của khối đại đoàn kết làm điểm tựa, là một quốc gia bản sắc, không bị hòa tan trong “dòng thác” toàn cầu hóa.
Chúng ta đang đứng trước cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc chơi bán dẫn, AI và kinh tế xanh. Kỷ nguyên mới đòi hỏi một hệ quản trị quốc gia hiện đại và phù hợp. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Đội ngũ cán bộ phải thực sự là những “kỹ sư tâm hồn” và “kiến trúc sư hành động”, phải dám dấn thân vào những "vùng trắng" của cơ chế để kiến tạo giá trị mới. Trong tầm nhìn năm 2045, cần nắm lấy tối thiểu 5 chìa khóa vàng để Việt Nam mở cánh cửa phát triển, giàu mạnh.

Chìa khóa về thể chế: Sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới đang đặt ra yêu cầu xây dựng một hệ thống chính trị siêu tinh gọn, đa năng và hiệu quả, để bộ máy vận hành như một thực thể quản trị hiện đại, thống nhất, không có "vùng đệm" trung gian gây lãng phí và chậm trễ.
Chìa khóa về nhân tài (trọng tâm là chính trị gia, kỹ trị gia, khoa học gia và doanh gia): Phi trí bất hưng. Cần tiếp tục phát triển một đội ngũ tinh hoa và ngang tầm lịch sử. Việt Nam cần có cơ chế đột phá để tìm kiếm, trọng dụng nhân tài như một quốc sách, với tư duy thực đức, thực tài và thực hiệu quả.
Chìa khóa về khoa học, công nghệ (trọng tâm là số hóa): Việt Nam phải làm chủ công nghệ (AI, bán dẫn, kinh tế số, kinh tế xanh…) để tạo ra năng suất lao động vượt trội trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là con đường ngắn nhất để thoát "bẫy thu nhập trung bình" và tránh tụt hậu giữa cuộc đua toàn cầu phát triển trong 15 năm tới.
Chìa khóa về văn hóa (sức mạnh nội sinh): Kỷ nguyên vươn mình không phải là việc của riêng bộ máy mà nền móng sức mạnh dồn tụ ở sự bùng nổ khát vọng phát triển từ lòng Dân. Lòng dân là Quốc bảo. Sức mạnh vươn mình nằm ở niềm tin. Với tư cách là hệ điều hành của dân tộc, văn hóa khơi dậy khát vọng phát triển, giàu mạnh và lòng tự tôn dân tộc trong mỗi người dân; thấm sâu vào chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại…, tạo ra một môi trường liêm chính - nơi lợi ích quốc gia luôn được đặt ở vị trí tối thượng.
Chìa khóa về kiểm soát quyền lực: Đây là chìa khóa để bảo vệ thành quả. Kiến thiết một cơ chế giám sát quyền lực đa chiều, để quyền lực luôn được đặt trong "lồng cơ chế" pháp quyền và đạo lý, bảo đảm sự liêm chính và dũng cảm của bộ máy lãnh đạo.
Linh hồn dân tộc suốt từ cổ chí kim qua năm 1975 đến nay, một mạch nguồn bất diệt làm nên mọi thắng lợi dù trong bất cứ hoàn cảnh thăng trầm nào không bao giờ thay đổi: Lòng Dân.
Từ chiến thắng năm 1975 đến khát vọng phát triển, giàu mạnh, dân tộc Việt Nam tiếp tục chứng minh một chân lý giản dị: Khi lòng Dân và ý Đảng thống nhất, không có đỉnh cao nào là không thể chinh phục.
Từ chiến hào Điện Biên Phủ đến Đại thắng mùa Xuân 1975, Việt Nam đã đi một quãng đường dài đầy gian khổ, nhưng rực rỡ, vinh quang để đánh đổ hai đế quốc to, bảo vệ nền độc lập và thống nhất nước nhà.
Hào khí Đại thắng mùa Xuân ngày 30/4/1975 tiếp tục cháy trong sức sáng tạo, bằng khát vọng chinh phục những đỉnh cao khoa học, công nghệ và văn hóa, tự tin bước vào thế giới với tâm thế của một dân tộc tự chủ chiến lược, tự cường, tự trọng và nhân ái, nhất định Việt Nam xứng đáng không chỉ là một quốc gia đáng sống mà thật sự trở thành một dân tộc khả tín trên trường quốc tế.

