Cuộc chiến không gian
Hành trình lịch sử tới trạm vũ trụ Thiên Cung 1, kéo dài 13 ngày và kết thúc hôm 29.6 vừa qua của tàu vũ trụ Thần Châu 9 là một bước đi dài trong chương trình vũ trụ đầy tham vọng của Trung Quốc, tạo tiền đề để Bắc Kinh thực hiện tham vọng chinh phục mặt trăng.
|
|
Thần Châu 9 đi vào lịch sử của Trung Quốc khi đã đưa nữ phi hành gia đầu tiên của nước này lên không gian - Thiếu tá Không quân Lưu Dương, 33 tuổi, cùng hai thành viên khác trong phi hành đoàn trên tàu là Đội trưởng kiêm phi hành gia kỳ cựu Cảnh Hải Bằng và Lưu Vượng. Đây cũng là con tàu vũ trụ có người lái thứ tư được Trung Quốc phóng lên vũ trụ, sau thành công của các thế hệ tàu Thần Châu vào năm 2003, 2005 và 2008. Trước đó, module nghiên cứu Thiên Cung-1 được phóng lên quỹ đạo vào tháng 9.2011 và vào tháng 11 cùng năm, Thần Châu 8 là tàu vũ trụ không người lái đầu tiên kết nối thành công với module Thiên Cung - 1.
Trong hành trình kéo dài 13 ngày trong không gian, tàu vũ trụ có người lái Thần Châu 9 đã thực hiện lắp ghép với trạm nghiên cứu Thiên Cung - 1; thử cung cấp hàng tiếp tế và nhân sự từ Trái đất lên các module trên quỹ đạo. Ngoài ra, các phi hành gia trên tàu còn tiến hành các cuộc thử nghiệm đánh giá tác động của môi trường không trọng lượng tới cơ thể người. Giới chuyên gia cho biết, thành công của Thần Châu 9 là dấu mốc quan trọng giúp Trung Quốc trở thành quốc gia thứ 3 trên thế giới, sau Mỹ và Nga, có khả năng kết nối tàu vũ trụ có người lái với một vật thể quay quanh quỹ đạo trái đất. Nhiệm vụ kết nối 2 vật thể trong không gian được thực hiện thành công đã tạo tiền đề cho Trung Quốc hướng tới kế hoạch xây dựng một trạm vũ trụ không gian cho riêng mình vào năm 2020. Giới chức Bắc Kinh tiết lộ, trạm vũ trụ tương lai của Trung Quốc có quy mô nhỏ hơn rất nhiều so với Trạm vũ trụ quốc tế (ISS) nặng 430 tấn, trị giá 100 tỷ USD hiện đang hoạt động trên quỹ đạo thấp của Trái đất, với sự góp mặt của hơn 10 quốc gia trên thế giới.
Chuyên gia về chương trình không gian của Trung Quốc tại Trung tâm quốc gia Nghiên cứu khoa học của Pháp Isabelle Sourbes - Verger nhận định, chương trình vũ trụ của Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển rõ rệt, với trạm vũ trụ mới cho phép kết nối với các module có kích cỡ lớn hơn và thực hiện sứ mệnh trong không gian kéo dài hơn, từ 1 - 3 tháng. Thời gian tới, Trung Quốc cũng sẽ tiến hành các cuộc phóng tàu vũ trụ lớn hơn cả về quy mô và ý nghĩa trong lĩnh vực khoa học cũng như chính trị.
Theo các nhà quan sát, Trung Quốc sẽ không chỉ dừng lại ở việc chứng tỏ nước này là một cường quốc về lĩnh vực khoa học vũ trụ, vượt ra khỏi phạm vi của trạm vũ trụ. Bắc Kinh đã đặt ra kế hoạch đến năm 2016, sẽ tăng cường việc phóng các vệ tinh ứng dụng như vệ tinh viễn thông, vệ tinh quan sát Trái đất, hệ thống định vị toàn cầu lên vũ trụ để phục vụ cho một số ngành công nghiệp chiến lược và sự phát triển chung về kinh tế - xã hội. Năm 2011, Trung Quốc đã phóng phiên bản hệ thống định vị toàn cầu của nước này, để cạnh tranh với hệ thống định vị toàn cầu (GPS) hiện có của Mỹ. Trung Quốc sẽ phóng thêm nhữäng vệ tinh mới, cho phép hệ thống định vị của nước này bao phủ toàn bộ khu vực châu Á vào năm nay, và toàn cầu vào năm 2020.
Trung Quốc đang có những bước tiến mạnh, vững chắc trong lĩnh vực chinh phục không gian và chưa biết chừng còn có thể vượt qua mặt Mỹ. Peter Bond, biên tập viên tạp chí Jane’s Space Systems and Industry đánh giá: “Trung Quốc đang tiếp cận theo hướng từng bước một, kiên nhẫn chờ thời và dần dần cải thiện khả năng của bản thân, để tạo ra một ngành công nghiệp hàng không không gian hiện đại và có nhiều khả năng”. Năm 2003, Trung Quốc là nước thứ 3 đưa người bay vào không gian, 4 thập kỷ sau Mỹ và Nga. Năm 2006, nước này phóng tàu thăm dò lên mặt trăng. Hồi năm 2008, Trung Quốc đã thực hiện chuyến đi bộ ngoài không gian đầu tiên. Theo kế hoạch, trạm vũ trụ của Trung Quốc sẽ khai trương vào năm 2020, thời điểm ISS sẽ phải đóng cửa. Nếu Mỹ và các cộng sự không có giải pháp thay thế, Trung Quốc sẽ là nước duy nhất có người sống lâu dài trong không gian. Tuy quốc gia châu Á này hiện vẫn tụt hậu 20 – 40 năm so với Mỹ trong lĩnh vực công nghệ và kinh nghiệm hàng không, không gian. Nhưng Trung Quốc không thiếu những kế hoạch phát triển và nguồn tài chính dồi dào để hiện thực hóa tham vọng. Trong khi các chương trình của Mỹ lần lượt trở thành nạn nhân của những mối lo ngại về việc thâm hụt ngân sách và nợ công tăng lên hay sự thay đổi bộ máy lãnh đạo, Trung Quốc lại không đối mặt với những mối đe dọa tương tự.
Kiểm soát mặt trăng từ lâu đã không còn nằm trong tầm ngắm của các nhà chiến lược quân sự Mỹ. Tổng thống Barack Obama đã hủy bỏ kế hoạch của chính quyền George Bush, đưa người Mỹ trở lại mặt trăng vào năm 2020, một phần trong kế hoạch thu hẹp quy mô của NASA. Trong khi đó, Trung Quốc không dè dặt công bố tham vọng lớn trong ngành khoa học vũ trụ của nước này. Năm 2011, Bắc Kinh đã vạch ra chương trình vũ trụ mới đầy tham vọng, có nhiệm vụ thu thập các mẫu vật từ mặt trăng đưa trở về trái đất, và sau đó sẽ đưa các phi hành gia đặt chân lên bề mặt của Mặt trăng vào năm 2020. Hiện, Trung Quốc đã có hai vệ tinh đang hoạt động trong quỹ đạo Mặt trăng, trong đó vệ tinh Chang’e 1 được phóng vào năm 2007 và vệ tinh thứ hai là Chang’e 2 được phóng lên quỹ đạo mặt trăng vào năm 2010. Cơ quan vũ trụ Trung Quốc còn đề xuất lập trung tâm nghiên cứu trên mặt trăng, tương tự những trung tâm mà nước này đã lập tại Bắc và Nam Cực. Các nhà quan sát dự đoán, đề xuất này có thể sẽ là tiền đề để Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền tại bề mặt của vệ tinh xa xôi này.
Trong bối cảnh chính quyền Obama đang thúc đẩy việc chuyển mũi nhọn chiến lược mới sang khu vực châu Á, vì vậy, rất có thể xung đột mới trong quan hệ Mỹ - Trung trong thế kỷ XXI sẽ không phải là ở vùng tranh chấp giàu trữ lượng dầu mỏ trên biển Đông, hay các khu vực khai thác ở eo biển Đài Loan, mà ở nơi rất xa, cách trái đất tới 200.000 dặm (khoảng 321.800km).


