Cộng đồng chung tay chăm sóc người cao tuổi trong xu thế già hóa dân số
Già hóa dân số nhanh đang đặt ra yêu cầu mở rộng mạng lưới chăm sóc người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng. Sự phối hợp giữa Nhà nước, gia đình, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp sẽ giúp người cao tuổi được chăm sóc liên tục, phù hợp với nhu cầu, đồng thời tạo điều kiện để họ tiếp tục đóng góp cho xã hội.
Kết nối chăm sóc từ gia đình đến cộng đồng
Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011. Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 2025, cả nước có khoảng 14,8 triệu người cao tuổi, chiếm 14,5% tổng dân số. Dự báo dân số giai đoạn 2024 - 2074 cho thấy, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia có dân số già vào năm 2034, sớm hơn 2 năm so với dự báo trước đây. Quy mô người cao tuổi gia tăng kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, hỗ trợ sinh hoạt và đời sống tinh thần. Trong khi đó, khả năng chăm sóc của gia đình đang chịu nhiều sức ép từ sự thay đổi quy mô hộ gia đình, việc làm và di cư.
Phân tích thực tế này, GS.TS. Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội thuộc Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, nhu cầu chăm sóc người cao tuổi sẽ tăng mạnh trong khi khả năng đáp ứng của gia đình ngày càng thu hẹp. Gia đình ít con hơn, phụ nữ tham gia sâu vào lực lượng lao động, nhiều người trẻ di chuyển xa nơi cư trú để học tập, làm việc khiến việc bố trí người chăm sóc cha mẹ thường xuyên trở nên khó khăn.
Bởi vậy, theo GS.TS. Nguyễn Đình Cử, cần chuyển từ mô hình gia đình tự đảm đương việc chăm sóc sang xã hội hóa chăm sóc người cao tuổi. Quá trình này đòi hỏi phát triển các dịch vụ phù hợp để gia đình có thêm lựa chọn và được hỗ trợ trong thực hiện trách nhiệm với người thân.
Theo đó, đạo hiếu trong điều kiện hiện nay cần được thể hiện linh hoạt. Chuẩn bị điều kiện kinh tế và lựa chọn dịch vụ chăm sóc có chất lượng cho cha mẹ cũng là một cách thực hiện trách nhiệm của con cái. Điều cốt yếu là người cao tuổi được quan tâm, được chăm sóc phù hợp và duy trì sự gắn bó với gia đình
Ở góc độ chuyên môn, TS.BS. Nguyễn Bích Ngọc, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Bệnh viện Lão khoa Trung ương, chỉ ra những áp lực đối với người chăm sóc trong gia đình, đặc biệt là phụ nữ. Nhiều người phải đồng thời chăm con nhỏ, chăm cha mẹ già và duy trì công việc. Thiếu kiến thức, kỹ năng chăm sóc, thiếu thời gian nghỉ ngơi có thể dẫn đến căng thẳng tâm lý, ảnh hưởng đến việc làm và cơ hội phát triển nghề nghiệp.
Những khó khăn đó cho thấy hỗ trợ người chăm sóc cũng là một phần thiết yếu của chính sách chăm sóc người cao tuổi. Người thân cần được hướng dẫn kỹ năng, tiếp cận tư vấn chuyên môn và có dịch vụ hỗ trợ khi không thể trực tiếp chăm sóc thường xuyên.
Trong khi đó, nguyện vọng của nhiều người cao tuổi là được "già hóa tại chỗ", "già hóa khỏe mạnh" trong ngôi nhà và môi trường sống quen thuộc. Để đáp ứng nguyện vọng này, cần chuyển từ chăm sóc dựa chủ yếu vào gia đình sang mô hình chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp và gia đình. Trong mạng lưới ấy, chính quyền tổ chức, điều phối; cơ quan chuyên môn hướng dẫn nghiệp vụ; các đoàn thể, tình nguyện viên và cộng tác viên dân số tham gia hỗ trợ; doanh nghiệp phát triển dịch vụ; gia đình đồng hành trong chăm sóc hàng ngày.
Sự kết nối cần hướng đến nhu cầu cụ thể của từng người. Người còn khỏe mạnh cần được hỗ trợ duy trì vận động, giao tiếp và tham gia hoạt động xã hội; người mắc bệnh mạn tính cần được theo dõi liên tục; người suy giảm chức năng cần phục hồi chức năng và hỗ trợ sinh hoạt phù hợp.
Bảo đảm chăm sóc liên tục từ bệnh viện đến cộng đồng
Chăm sóc tích hợp đòi hỏi chuyển từ tư duy khám, chữa bệnh đơn thuần sang chăm sóc toàn diện, liên tục, chủ động phòng ngừa và lấy người cao tuổi làm trung tâm.
Theo đó, hướng dẫn chăm sóc tích hợp cho người cao tuổi của Tổ chức Y tế Thế giới - ICOPE chú trọng đánh giá năng lực vận động, thị lực, thính lực, dinh dưỡng, nhận thức và tâm lý. Kết quả đánh giá là cơ sở xây dựng kế hoạch chăm sóc phù hợp với tình trạng sức khỏe, mức độ suy giảm chức năng và điều kiện sống của từng người.

Việc chăm sóc cần được tổ chức thành chuỗi liên tục: Từ tự chăm sóc, dự phòng, khám sức khỏe định kỳ đến điều trị, phục hồi chức năng và hỗ trợ trở lại sinh hoạt tại cộng đồng. Khi người cao tuổi chuyển từ bệnh viện về nhà, gia đình cần biết cách tiếp tục chăm sóc, theo dõi và liên hệ với cơ sở chuyên môn khi cần thiết.
TS.BS. Nguyễn Bích Ngọc đề xuất tăng cường dự phòng bệnh mạn tính thông qua mạng lưới bác sĩ gia đình, khám sức khỏe lão khoa định kỳ và phát triển các điểm chăm sóc ban ngày tại cộng đồng. Đây là hướng giúp người cao tuổi tiếp cận dịch vụ gần nơi ở, đồng thời góp phần giảm áp lực cho bệnh viện và gia đình.
Tại các điểm chăm sóc ban ngày, người cao tuổi có thể được tập phục hồi chức năng, tư vấn dinh dưỡng, tham gia dân vũ, bóng chuyền hơi và giao lưu cùng những người đồng trang lứa. Việc hướng dẫn kỹ năng số, nhận diện lừa đảo trên mạng cũng giúp họ chủ động hơn trong cuộc sống. Cuối ngày, người cao tuổi trở về sinh hoạt cùng gia đình, duy trì sự gắn bó với con cháu.
Tận dụng cơ sở vật chất của trạm y tế hoặc trụ sở công sau sắp xếp để tổ chức các điểm chăm sóc là một hướng triển khai phù hợp. Tuy nhiên, để hoạt động hiệu quả, mô hình cần có nhân lực được đào tạo, nội dung chăm sóc phù hợp và cơ chế phối hợp với cơ sở y tế.
Theo Phó Cục trưởng Cục Dân số, Bộ Y tế TS. Phạm Vũ Hoàng cần tập trung vào 4 nhóm giải pháp: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân số và người cao tuổi; đẩy mạnh truyền thông để chuyển sang tư duy chủ động phòng bệnh, chăm sóc liên tục; phát triển đa dạng dịch vụ chăm sóc dài hạn người cao tuổi; tăng cường phối hợp liên ngành và sự tham gia của các tổ chức, lực lượng tại cơ sở. Trong đó, truyền thông cần giúp gia đình nhận biết sớm sự suy giảm chức năng, hiểu nhu cầu chăm sóc và chủ động tìm kiếm hỗ trợ. Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, tình nguyện viên và cộng tác viên dân số có thể tham gia thăm hỏi, hướng dẫn, kết nối người cao tuổi với dịch vụ phù hợp.
Cùng với phát triển dịch vụ, TS.BS. Nguyễn Bích Ngọc kiến nghị quan tâm đào tạo kỹ năng cho người chăm sóc; nghiên cứu chế độ nghỉ phép, thời gian làm việc linh hoạt cho người có trách nhiệm chăm sóc thân nhân; có chính sách khuyến khích doanh nghiệp cung cấp sản phẩm và dịch vụ dành cho người cao tuổi.
Công nghệ cũng có thể hỗ trợ kết nối chăm sóc thông qua hồ sơ sức khỏe điện tử, tư vấn từ xa, thiết bị theo dõi và cảnh báo cấp cứu. Để những tiện ích này đến được với người cao tuổi, cần có sự hướng dẫn trực tiếp từ nhân viên y tế, người thân và lực lượng hỗ trợ tại cộng đồng.
Sự chung tay còn thể hiện ở cách nhìn nhận người cao tuổi như một nguồn lực của xã hội. Người còn sức khỏe, có nhu cầu cần được tạo điều kiện tham gia hoạt động cộng đồng, chia sẻ kinh nghiệm, tiếp tục lao động phù hợp. Chính sự gắn kết, cảm giác được tôn trọng và có ích cũng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Lấy người cao tuổi làm trung tâm, lấy sự hài lòng làm thước đo hiệu quả chính sách, đòi hỏi mỗi dịch vụ và hoạt động hỗ trợ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế. Khi gia đình được tiếp sức, dịch vụ được kết nối và cộng đồng tham gia thường xuyên, người cao tuổi sẽ có thêm điều kiện sống khỏe mạnh, an toàn trong môi trường quen thuộc.

