Con tôm he (Phần cuối)

16/01/2007 00:00

Nhưng tôi không giấu được đôi mắt dò xét của thầy Tùng chuyện ngừng học vẽ. Một buổi thầy gọi tôi tới nhà. Thoạt bước vào phòng, tôi ngạc nhiên thấy xếp dưới chân tường gần hai chục bức toan nhỏ mới tinh. Một gia tài lớn ít ai dám mơ tới.

     - Anh đoán biết vì sao em nghỉ học vẽ rồi. Rất tiếc anh chỉ đủ sức giúp em đóng được hai mươi cái toan mới cho em. Việc ấy cần thiết hơn phải không? Còn người mẫu ư? Thì anh ngồi cho em vẽ. Khổ thật, có thế mà anh không nghĩ ra từ đầu. Đi thi cũng phải vẽ mẫu đàn ông cơ mà. Thôi, cứ vậy nhé. Tranh thủ, bắt đầu đi em! 
      Không để tôi kịp phản đối, anh bỏ đi nhanh vào buồng tắm. Tôi còn đang phân vân chưa biết sự thể sẽ diễn ra thế nào, anh đã xuất hiện với cái khăn tắm quấn phía dưới, tới ngồi vào cái ghế dành cho người mẫu, nghiêng nghiêng ý tứ ngoảnh ra phía cửa sổ. Tôi hoảng hồn, ngồi chết lặng. Trời đất ơi, tôi chưa từng để mắt ngắm một thân thể đàn ông trần trụi bao giờ, càng không tưởng tượng được sự suồng sã này với anh, anh có biết thế không?
      - Em bắt đầu đi! Anh đã sửa soạn sẵn cả đấy. 
      Giọng hối thúc nghiêm nghị của anh khiến tim tôi run bắn, chỉ muốn tông cửa bỏ chạy. Để tự trấn tĩnh, tôi răm rắp làm theo lời anh như một cái máy… Sơn đấy, bút đấy, pa-lét nữa, anh đã chuẩn bị sạch sẽ cho em, chỉ việc dùng thôi. Anh ngồi tư thế này có lẽ cũng ổn, em cần sửa gì cứ nói. Nhớ phải lên khối lớn trước đã…
      Tới lúc đặt nét bút đầu tiên, tôi mới hơi bình tâm. Bình tâm để xót xa thương anh. Anh gầy quá thể và dáng dấp bắt đầu in dấu ấn tuổi tác. Hình như anh chẳng có thì giờ nghĩ đến mình ngoài nỗi đam mê hội họa. Chính nỗi đam mê ấy đã khiến anh tận tâm cả với một cô gái tàn tật, vượt qua cả sự ngượng ngùng phải trần trụi ngồi mẫu, chẳng vì cái gì, chẳng một xu công lao. Nghĩ thế nước mắt tôi muốn trào ra. Tự dưng nét bút tôi gượng nhẹ khi đi qua vùng xương xẩu, tránh sự mặc cảm cho anh ấy.                                                                       
      Hơn hai tháng sau tôi có mười tám bức ký hoạ nghiêm chỉnh bằng sơn dầu. Thầy trò tôi vui vô kể. Bắt đầu mỗi buổi học, chúng tôi sôi nổi bình luận từng bức ký họa một, coi đó là tài sản chung không gì sánh nổi.
Nhưng tôi chưa kịp vẽ bức ký họa thứ mười chín thì sự cố lại ập đến. Bà mẹ anh Toản cảm mạo nhập não, khó qua khỏi. Gia đình anh quyết định phải cưới chạy tang. Tôi không nỡ phản đối. Lại một dịp cuống cuồng lo sợ, phó mặc cho số phận. 
      Tôi viết một lá thư, kèm vào tấm thiếp mời dự đám cưới, nhờ cô bạn gái gửi tới thầy Tùng. Tôi hứa sau khi lo chuyện cưới xin xong, sẽ chuẩn bị hồ sơ thi cử, nhất định không bỏ cuộc. Đáp lại, anh viết cho tôi vỏn vẹn mấy dòng: "Anh thật bất ngờ. Cầu chúc em hạnh phúc. Điều duy nhất: đừng bỏ cuộc em nhé!”      
      Anh Tùng không tới dự đám cưới tôi. Vào lúc hai họ đang dự tiệc trà trong nhà, cô dâu chú rể đi quanh cảm ơn, tôi thoáng thấy anh đứng sau đám đông ngoài cửa. Nhưng khi tôi chạy ra đã không thấy anh đâu nữa. Tôi áy náy vô cùng. 
      Cuộc sống kéo tôi đi, tất bật, tính toan. Khi tôi tìm được dịp ghé thăm anh Tùng, mới biết anh đã trả căn phòng thuê, đi đâu không ai biết. Tôi tìm đến hai người bạn họa sĩ của anh, họ cũng nói anh ra đi rất lạ, không cho ai địa chỉ. Tôi tìm đến trường cấp hai ở nơi sơ tán, nhà trường cho biết thày Tùng nghỉ dạy đã mấy tháng nay. Tưởng như anh bay hơi khỏi mặt đất. Tôi ngơ ngẩn mất bao lâu mới thôi. Liệu chuyện tôi lấy chồng có là một phần nguyên nhân anh ra đi không? 
      Năm ấy tôi thi đỗ vào Cao đẳng Mỹ thuật tạo hình. Điểm thi khá đàng hoàng, đặc biệt môn hình hoạ tôi đứng đầu danh sách. 
      Sang năm học thứ hai, khi sinh viên đi vẽ ngoại cảnh tại Hương Canh, tôi cùng ba người bạn chọn một ngôi chùa cổ làm đề tài. Chúng tôi mỗi đứa tìm một góc, mê mải làm việc ngay từ sáng sớm. Rất năng suất. Lòng tôi phơi phới. Gió trời thổi lộng, mùi hoa từ cây ngọc lan cổ thụ sân chùa phảng phất không gian. Một vài đứa trẻ rụt rè đứng xa xa ngó xem tôi vẽ. Tôi không chú ý đến chúng. Bỗng một cô bé khoảng mươi tuổi đi tới, chìa mấy bông hoa trắng muốt trong lòng bàn tay, nhỏ nhẹ làm quen.  
      - Cô ơi, cô lấy hoa đi, thơm lắm. 
        Tôi cười, cảm ơn nó, nhặt hai bông lan cài lên bím tóc. 
      - Cô thích nhất hoa lan. Nhưng cây cao thế kia, làm sao cháu hái được?
      - Ngày nào cháu chả trèo hái cho thầy Tùng cháu. Thầy Tùng cũng là hoạ sĩ như cô đấy. Thầy dạy cháu với thằng Tân, chúng cháu được chọn đi thi vẽ trên Huyện, cháu được giải nhì, thằng Tân chả được giải nào. 
      Tôi sửng sốt đánh rơi bút. Không lẽ lại là anh?
      - Thầy Tùng? Cháu nói thầy Tùng nào vậy? Thầy ở đâu hở cháu?
      Cô bé giương cặp mắt to thông minh nhìn tôi dò hỏi. Rồi nó cười sung sướng. 
      - Cô cũng biết thầy Tùng ư? A phải rồi, trước thầy ở Hà Nội.  Thôi chết, đúng cô rồi, giờ cháu mới nhận ra cô. 
       Tôi càng bất ngờ hơn, không nhận thấy giọng mình lạc đi. 
      - Cháu nói nhận ra cô? Vì sao?  
      - Thầy Tùng vẽ cô y hệt thế này. Nhiều lắm, có cái mặc áo len xanh nữa cơ.
áo len xanh! Đúng rồi. Tôi lập tức xếp gọn giá vẽ, bảo các bạn trông hộ đồ nghề rồi túm lấy cô bé tên Hướng nhờ đưa tới nhà thầy Tùng. Trên đường đi, tim tôi đập loạn xạ. Biết đâu không phải anh ấy, chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Nếu vậy sẽ thật sự đau đớn biết bao. Xin trời cho tôi gặp anh ấy một lần!
      - Dạo này thầy Tùng hay ốm lắm cô ạ. Phải nghỉ dạy vẽ ở trường cấp hai. Bây giờ lắm khi chỉ nhờ cháu ra nhà hàng mua cặp lồng cháo về ăn cả ngày. Tại thầy có một mình, nhà cháu ở ngay phía sau, bố cháu bảo phải giúp đỡ thầy ấy. 
      - Còn xa không cháu? 
      - Đây kia. Cây mít ngoài cổng nhà thầy đấy cô. 
      Cây mít chi chít quả từ gốc lên ngọn, tuy chưa to, tán lá phủ bóng mát trùm cả cái cổng gạch xây rêu phong. Thấp thoáng phía sau là mái ngói một ngôi nhà kiểu cổ. Không gian nơi đây lặng lẽ mơ màng. 
      Tôi dừng lại bên cổng, bảo cô bé: 
      - Cháu vào nói trước với thầy có người đến thăm nhé!
      - Không cần. Nói trước có khi thầy không tiếp đâu. Cô cứ vào đi. 
      Thực ra tôi rất sợ phút gặp mặt một người xa lạ nào đó, sẽ ăn nói thế nào đây. Bé Hướng kéo tay tôi, ân cần. 
      - Vào đi cô. Thăm thầy ấy một tí. Quanh năm chả có ai đến chơi thì thật buồn cô nhỉ?
      Tôi đi vào cái sân gạch cũng rêu xanh, phủ đầy lá mít vàng. Ngôi nhà gỗ cửa bức bàn, những con tiện cái mất cái còn như bộ răng người già, gợi thương nhớ một thời xưa cũ. 
      Bước lên thềm, tôi đánh tiếng bên cánh cửa khép hờ: 
      - Thầy Tùng có nhà không ạ?
      - Thầy ơi, có khách thầy ơi! Bé Hướng véo von tiếp lời tôi.      
      Không có tiếng trả lời. Tôi hồi hộp ngó vào bên trong. Tôi thoáng nhận ra có rất nhiều tranh trên các bức tường mờ tối. Nói đúng ra tôi nhận thấy chính mình ở mọi xó xỉnh. A, tấm ri-đô hoa cũ kỹ che cái giường gỗ đã hơi động đậy. Rồi một thân hình ốm yếu trong bộ quần áo ngủ xuất hiện với gương mặt ngạc nhiên, khó chịu. Tôi ngỡ mình khuỵu xuống. Không cất nổi một lời, tôi bước qua ngưỡng cửa gỗ, lao tới ôm chầm lấy anh ấy. 
      Nhận ra tôi, cả người anh run lên, hai cánh tay gầy guộc ghì xiết vai tôi nóng hổi, cái nóng của người đang trong cơn sốt. Tôi bật khóc tức tưởi. 
      Hóa ra sau khi tôi lấy chồng, anh bỏ về Hương Canh với người cô ruột sống đơn độc. Trước đấy bà vẫn nhắn nhe anh trở lại quê nhà, gánh vác trách nhiệm trông nom ngôi từ đường, bởi anh là người duy nhất còn sót lại của gia tộc. Anh lại dạy vẽ cho trường cấp hai địa phương, mang niềm đam mê hội hoạ gây gột cho vài đứa trẻ, trong đó có cái Hướng. Từ khi bà cô già ốm chết, anh sống lặng lẽ, không đi đâu khỏi làng, như người ẩn dật. 
      Anh không nhắc đến bệnh tật có lẽ vì sợ tôi buồn. Nhưng nhìn hình hài sa sút của anh tôi phấp phỏng lo sợ. Suốt trong nửa tháng ở Hương Canh ngày ngày tôi đều tới chăm nom anh, nghe anh chỉ bảo những kinh nghiệm anh muốn dành cho tôi. Cả hai chúng tôi đều làm như không thấy những bức tranh anh vẽ tôi treo trên các bức tường. 
      Tôi đã biết bao cố gắng, tạ sự công việc để có được hai lần nữa lên Hương Canh thăm anh ấy. Lần cuối cùng tôi thấy anh yếu quá, yếu đến nỗi phải cố lắm mới ngồi dậy được từ cái võng dù. Gặp tôi anh mừng quýnh, khuôn mặt rạng rỡ tội nghiệp khiến tôi không sao cầm được nước mắt. Tôi muốn đưa anh về Hà Nội chạy chữa nhưng anh thều thào từ chối. Anh nói ở đây hàng ngày bố mẹ cháu Hướng vẫn sang giúp anh thuốc men, cháo sữa, không cần gì thêm. 
      - Anh muốn ăn gì để em làm cho anh?  
      Với nụ cười yếu ớt, anh nói cho tôi yên lòng: 
      - Em đừng bận tâm, anh sợ phải ăn lắm rồi… à, nếu lần sau lên thăm, em mua cho anh một con tôm he… Nhiều lúc anh nhớ… hồi bé mẹ anh thường cho anh ăn mỗi sáng trước khi đi học một bát cơm nóng. Trên bát cơm là khúc tôm he rim với cà chua, tiêu bắc. Khúc tôm đỏ lựng, thơm ngọt chưa từng thấy… không bao giờ anh được ăn nữa…
      - Được rồi, nhất định em sẽ làm món tôm he cho anh. 
      Trước khi tôi về, anh ôm tôi rất lâu, đặt môi lên trán tôi cũng rất lâu, như thể anh nguyện cầu cho tôi một điều gì đó với các đấng thần linh. Cái ấn tượng về đôi môi lạnh giá, nhuốm hơi tử thần đặt trên trán tôi đã ám ảnh tôi suốt đời. Lúc đó tôi mơ hồ sợ rằng khó có lần gặp lại anh nữa. 
      Tôi tạt qua nhà cô bé Hướng, đưa cho bố mẹ cháu số tiền tôi mang theo, vừa khóc vừa nhờ họ chăm sóc anh ấy. Tôi ghi lại địa chỉ trường Mỹ thuật để họ có thể viết thư thông tin cho tôi hàng tuần. 
      Khoảng nửa tháng chờ đợi, cuối cùng lá thư đầu tiên đã tới tay tôi. Chao ôi, đó cũng là lá thư bố mẹ cháu Hướng báo cho tôi biết: hai ngày sau khi tôi lên thăm, anh ấy đã ra đi, lặng lẽ trong đêm. Cô bé Hướng thắt tấm khăn trắng duy nhất, đưa tang anh cùng dân làng. “Có tấm khăn trắng cho đỡ tội nghiệp”, lá thư viết thế! 
      Sau này Hướng cũng thi đỗ trường Mỹ thuật Tạo hình. Thật kỳ lạ! Tôi dạy em mà ngỡ có sợi dây liên hệ vô hình ràng buộc gắn bó chúng tôi với nhau. Sợi dây ấy là anh. Lạy anh, xin anh đừng rời bỏ chúng tôi trong cõi tâm linh!     
      Kể từ khi chồng tôi mất rồi, tôi mới dám làm mâm cơm cúng tất niên đặt bên cửa sổ phòng đọc sách để tưởng nhớ ân nhân của tôi. Con tôm he luôn ám ảnh trong đầu tôi bao nhiêu năm tháng qua. Bây giờ tôm he đã là hàng xuất khẩu, không lọt ra ngoài. May sao có người bạn ở Đồ Sơn nhớ tới ao ước của tôi, tìm bằng được gửi lên ba con vào đúng sáng ba mươi Tết. Tôi mừng quá. Suốt từ sáng tới giờ lòng tôi ca hát, những kỷ niệm cũ bảng lảng trở về. 
         Rồi con tôm he biến mất trong nháy mắt. Vâng, nhà tôi không nuôi mèo, phòng đọc sách không bao giờ có chuột. Tất nhiên tôi không thể đoan chắc hàng xóm không nuôi mèo, và chuột hàng xóm không cao hứng thăm nom tôi dịp tất niên. Cũng rất có thể…
       Tôi vẫn thường tự an ủi: tôi chẳng bao giờ được may mắn thỏa nguyện điều gì, nhưng giời đất chứng cho tôi!

Đoàn Lê

    Nổi bật
        Mới nhất
        Con tôm he (Phần cuối)
        • Mặc định