Cởi bỏ tư duy đồng đẳng trong hệ thống giáo dục đại học
Trao đổi với PV Báo ĐBND, TIẾN SỸ HOÀNG NGỌC VINH - chuyên gia về giáo dục cho rằng, việc phân tầng giáo dục đại học (GDĐH) là rất cấp thiết nhằm cởi bỏ tư duy đồng đẳng trong hệ thống GDĐH. Đây cũng là chìa khóa để cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý của GDĐH Việt Nam hiện nay.
- Phân tầng giáo dục đại học là điểm mới được nêu ra trong dự thảo Luật GDĐH rất được dư luận quan tâm, ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
- Lịch sử phát triển của GDĐH thế giới cho thấy đã có sự phân tầng tự nhiên đối với GDĐH. Giới nghiên cứu thường chia hệ thống GDĐH (một số nghiên cứu gọi là giáo dục sau trung học) ra làm 3 tầng (tripartite system). Tầng thứ nhất gồm các trường đại học nghiên cứu hàng đầu; tầng thứ hai gồm các trường đại học có đầu vào ít cạnh tranh hơn (theo hướng khoa học ứng dụng - công nghệ) và có thể có một số chương trình nghề; tầng thứ ba gồm các trường đại học mới thành lập giảng dạy là chính, các cao đẳng như cao đẳng cộng đồng, cao đẳng kinh tế, kỹ thuật, hoặc cao đẳng nghề nghiệp.
Tất nhiên việc xếp các trường theo tầng khác nhau đôi khi khó phân biệt rạch ròi ranh giới, đặc biệt giữa tầng thứ nhất và tầng thứ hai. Nhưng việc phân tầng sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề của GDĐH, góp phần quản lý hệ thống tốt hơn, nhờ vậy chất lượng và hiệu quả đào tạo sẽ được cải thiện nhiều.
- Vậy, GDĐH Việt Nam có cần thiết phải phân tầng không, thưa ông?
- Phân tầng là quy luật của sự phát triển GDĐH, đây là vấn đề cấp thiết của GDĐH Việt Nam nếu muốn đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế về giáo dục. Như chúng ta biết, bất kỳ một nền giáo dục nào cũng phải đáp ứng được 3 nhóm nhu cầu thuộc về người học (hoặc gia đình), doanh nghiệp hoặc cơ quan sử dụng nhân lực và nhu cầu của Chính phủ (hay nói rộng hơn là nhu cầu của một thể chế chính trị).
Người học có nhu cầu nâng cao trình độ, năng lực bản thân để có thể có được việc làm, thu nhập hoặc nhu cầu khác; người sử dụng lao động có nhu cầu tuyển được lao động có năng suất cao, dễ đào tạo, thích ứng nhanh với môi trường..; Chính phủ thì có nhu cầu về chất lượng và hiệu quả đào tạo, nhiều người được học nhưng chi phí phải ít, giảm thất nghiệp, xã hội ổn định...
![]() Nguồn: news.vnu.edu.vn |
Các nhu cầu này rất đa dạng và phong phú. Ngay trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội sự đa dạng về nhu cầu chất lượng và số lượng cũng khác nhau điều đó đòi hỏi việc thiết kế hệ thống đào tạo nhân lực cũng phải theo sát nhu cầu nhân lực. Nền kinh tế trí thức thì cần các đại học nghiên cứu xuất sắc; nền kinh tế công nghiệp thì cần nhiều các đại học kỹ thuật, công nghệ hoặc khoa học ứng dụng; nền kinh tế mà sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, dịch vụ kém phát triển thì cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các trường cao đẳng sẽ phải có sứ mệnh đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế ấy.
- Điều gì sẽ diễn ra khi GDĐH Việt Nam áp dụng cơ chế phân tầng, đây có phải là một trong các giải pháp giúp tăng cường quản lý nhà nước và giảm bớt bất cập của GDĐH hiện nay?
- Khi có sự phân tầng, trường đại học sẽ tự xác định cho mình sứ mạng, chức năng và nhiệm vụ cơ bản để có mô hình cơ cấu tổ chức phù hợp và cấu trúc quản trị hợp lý. Rõ ràng, mức độ tự chủ sẽ khác nhau tùy theo đẳng cấp của mình và không thể “nhốt” các trường đại học, cao đẳng vào cùng một rọ để cơ quan quản lý nhà nước ban cho quyền tự chủ như nhau. Như vậy sẽ tạo ra sự lộn xộn trong giáo dục. Một số trường đại học hoặc cao đẳng nếu xếp loại thuộc tầng thấp nhất nhưng lại đòi được tự chủ như các đại học thuộc tốp đầu thì hoàn toàn vô lý. Điều này đã được thể hiện khá rõ ở dự thảo Luật GDĐH - tự chủ phải có điều kiện và phải đáp ứng các tiêu chuẩn do nhà nước quy định.
Khi xác định đẳng cấp của trường đại học thì Nhà nước sẽ có cơ chế tài chính tương thích với mô hình quản trị và không thể có chuyện cào bằng trong việc phân bổ kinh phí, điểm chuẩn tuyển sinh cũng từ đó mà xác định chứ cũng không phải mang cái thước điểm sàn ra để áp cho mọi trường. Nói cách khác đối tượng tuyển sinh khi đó sẽ khác tùy theo trường đại học ở đẳng cấp nào. Khi phân tầng thì tùy thuộc vào sứ mệnh, vài trò, chức năng, nhiệm vụ của nhà trường, đối tượng tuyển sinh, nhu cầu thị trường lao động để có chương trình đào tạo, suất đầu tư, cơ cấu nhân sự quản lý và giảng dạy sẽ có sự điều chỉnh theo. Khi đó sẽ chẳng có một công thức chung áp cho cả các trường đại học về tỷ lệ sinh viên/giảng viên ở một khối ngành nào đó hay tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ. Nhà nước lúc đó sẽ bớt đi những quy định cứng nhắc, bó hẹp áp lên sự đa dạng ở các trường. Đặc biệt, các tiêu chuẩn kiểm định của Nhà nước cũng phải theo phân tầng đẳng cấp các trường. Như vậy, mục đích của việc phân tầng là nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý của hệ thống GDĐH Việt Nam.
- Theo ông, có cần có những tiêu chí hay tiêu chuẩn để phân tầng GDĐH hay không?
- Phân tầng không phải là liều thuốc vạn năng để tháo gỡ những khó khăn của GDĐH hiện nay do hệ thống này chịu quá nhiều tác động từ bản thân hệ thống giáo dục và các yếu tố bên ngoài thuộc về điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa (dân số, thất nghiệp, việc làm, tăng trưởng kinh tế, sự tiến bộ của khoa học, công nghệ...), chịu chi phối của nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Nhưng nếu không phân tầng chúng ta sẽ khó có mô hình quản trị và tài chính đúng đắn đối với mỗi nhóm trường đại học (quản trị và tài chính là 2 vấn đề căn bản của GDĐH nước ta); chúng ta cũng không có các chương trình đào tạo phù hợp với nhà trường cũng như những vấn đề về nhân sự và tổ chức khác...
Sự phát triển đa dạng của GDĐH cần được đặt trong sự thống nhất về chính sách để đạt được mục tiêu chất lượng, hiệu quả và cơ hội bình đẳng tiếp cận GDĐH của người dân. Phân tầng được đề cập trong dự thảo Luật GDĐH là một bước thay đổi nhận thức quan trọng để cởi bỏ tư duy “đồng đẳng” của cả hệ thống sang sự phát triển đa dạng của hệ thống mà vẫn đảm bảo tính thống nhất cần thiết.
Như vậy, rất cần định ra các tiêu chí và tiêu chuẩn về các phương diện như: sứ mệnh nhà trường, vai trò, chức năng, mô hình quản trị (governance - quản trị là cơ cấu tổ chức và các tầng nấc ra quyết định quản lý), đối tượng tuyển sinh, tỷ lệ sinh viên/giảng viên, tỷ lệ sinh viên cao học, nghiên cứu sinh trên tổng quy mô sinh viên, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, phòng thí nghiệm, suất đầu tư, sản phẩm nghiên cứu... Khi đó trường nào được gọi là trường trọng điểm, trường đại học vùng... sẽ có các tiêu chí để xem xét một các khoa học hơn.
- Xin cảm ơn Tiến sỹ!


