Giáo dục

Cơ hội rộng mở cho giáo dục nghề nghiệp

Thái Bình thực hiện 31/12/2025 18:29

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo khẳng định: Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao. Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ Mười đã nhanh chóng thể chế hóa chủ trương này. Cơ hội đang rộng mở với giáo dục nghề nghiệp.

Để làm rõ điều này, Báo Đại biểu Nhân dân có cuộc trao đổi bàn tròn với 3 khách mời: ĐBQH NGUYỄN THỊ THU DUNG - Hiệu trưởng Trường CĐ Y tế Thái Bình; PGS. TS. BÙI VĂN HƯNG - Hiệu trưởng Trường CĐ Kỹ Nghệ II; TS. LÊ LÂM - Hiệu trưởng Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn.

Động lực lớn, kỳ vọng lớn

PV: Là lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp, ông/bà đón nhận những chủ trương, chính sách mới với lĩnh vực này như thế nào?

a1.jpg
PGS. TS. BÙI VĂN HƯNG - Hiệu trưởngTtrường CĐ Kỹ nghệ II

PGS. TS. BÙI VĂN HƯNG: Trước hết, phải khẳng định Nghị quyết số 71-NQ/TW và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) là những chủ trương, chính sách rất kịp thời và có ý nghĩa chiến lược đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp (GDNN). Vì lẽ đó, chúng tôi đón nhận với tinh thần rất phấn khởi và kỳ vọng lớn.

Việc Bộ Chính trị khẳng định GDNN giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao cho thấy sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy phát triển nguồn nhân lực, đặt GDNN đúng vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển KT - XH và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động. Đây không chỉ là sự ghi nhận vai trò của hệ thống GDNN mà còn là động lực lớn để các cơ sở GDNN tiếp tục khẳng định mình.

Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đã kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tháo gỡ nhiều “điểm nghẽn” trong thực tiễn, đặc biệt là các quy định liên quan đến tự chủ của cơ sở đào tạo; gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp; linh hoạt chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra theo yêu cầu thị trường lao động... Đây là những nội dung mà các cơ sở GDNN đã mong đợi từ lâu.

Chúng tôi tin tưởng, với định hướng đúng đắn của Đảng, sự hoàn thiện của hành lang pháp lý và quyết tâm đổi mới từ chính các cơ sở GDNN, GDNN sẽ thực sự trở thành trụ cột trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

TS. LÊ LÂM: Điều chúng tôi thật sự tâm đắc là vấn đề đổi mới về tư duy cũng như sự quyết tâm và cam kết đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục, với khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc. Đây chính là nền tảng quan trọng và là bệ phóng để phát triển giáo dục nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Bởi lẽ, đột phá phát triển giáo dục phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức và đổi mới thể chế, chính sách để tạo tiền đề định hướng cho những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược quốc gia.

a2.jpg
TS. Lê Lâm - Hiệu trưởng Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn

Phải đặt nhiệm vụ đột phá với suy nghĩ mới, không gian mới và nhiệm vụ mục tiêu cấp thiết mới thì mới tạo chuyển biến nhanh, mạnh trong nâng cao chất lượng và bảo đảm tự chủ cho các cơ sở giáo dục. Đây chính là cơ hội trăm năm để xây dựng một nền giáo dục hiện đại đáp ứng nhu cầu học tập cho công dân, đồng hành cùng sự thay đổi vũ bão của khoa học - công nghệ và nhu cầu nhân lực chất lượng cao của đất nước cũng như hòa vào dòng chảy giáo dục toàn cầu.

Quan điểm “Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao” cùng các chính sách được đưa ra trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) sẽ thúc đẩy lĩnh vực này phát triển mạnh mẽ với tâm thế mới và động lực mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nước nhà.

ĐBQH NGUYỄN THỊ THU DUNG: Tôi cho rằng, những chủ trương, chính sách mới của Đảng trong Nghị quyết số 71-NQ/TW, được thể chế kịp thời tại Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ 1/1/2026, là “cơ hội vàng để tái cấu trúc” giáo dục nghề nghiệp. Lãnh đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần khẩn trương nắm bắt và triển khai, đặt mục tiêu cụ thể, xây dựng lộ trình chi tiết dựa trên các ưu tiên của Nghị quyết và quy định của Luật, đồng thời tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp và cộng đồng để hiện thực hóa “đột phá” trong lĩnh vực này.

a3.jpg
ĐBQH Nguyễn Thị Thu Dung - Hiệu trưởng Trường CĐ Y tế Thái Bình

Chủ trương đã rõ, luật đã mở đường, vấn đề còn lại là tổ chức thực thi hiệu quả, kèm cơ chế nguồn lực, giám sát, đánh giá kết quả đầu ra đầy đủ, chắc chắn giáo dục nghề nghiệp sẽ có bước tiến vượt bậc.

Đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số

PV: Như ĐBQH Nguyễn Thị Thu Dung vừa nói, “chủ trương đã rõ, luật đã mở đường, vấn đề còn lại là tổ chức thực thi hiệu quả”. Cụ thể, nhà trường sẽ tận dụng cơ hội này ra sao để đào tạo lực lượng lao động đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới: không chỉ giỏi nghề, mà còn có khả năng thích ứng, sáng tạo, học tập suốt đời, đặc biệt ứng dụng trí tuệ nhân tạo và nền tảng số?

PGS. TS. BÙI VĂN HƯNG: Như đã nói ở trên, việc xác định rõ sứ mệnh của GDNN trong các chủ trương lớn của Đảng và pháp luật của Nhà nước tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo chủ động đổi mới mạnh mẽ hơn. Trường Cao đẳng Kỹ nghệ II xác định mục tiêu đào tạo không chỉ dừng ở giỏi nghề, mà hướng tới hình thành lực lượng lao động có khả năng thích ứng, sáng tạo, học tập suốt đời và tự tin bước ra thị trường lao động quốc tế.

Thế mạnh của Trường Cao đẳng Kỹ Nghệ II là đã xây dựng phòng học số đáp ứng nhu cầu dạy và học. Theo đó, nhà trường đẩy mạnh đổi mới chương trình theo hướng tích hợp kỹ năng số, kỹ năng nền tảng và tư duy công nghệ; tăng cường đào tạo gắn với thực tiễn doanh nghiệp; từng bước đưa các nội dung về trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa và nền tảng số vào các ngành, nghề phù hợp.

Song song đó, nhà trường chú trọng xây dựng năng lực học tập suốt đời cho người học, thông qua phương pháp đào tạo linh hoạt, phát triển kỹ năng tự học, tự cập nhật công nghệ, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

ĐBQH NGUYỄN THỊ THU DUNG: Với đặc thù trường cao đẳng y tế, chúng tôi sẽ triển khai theo 5 hướng lớn. Một là, đào tạo theo năng lực - gắn chặt chuẩn nghề và chuẩn vị trí việc làm; rà soát chuẩn đầu ra theo năng lực hành nghề (lâm sàng, cận lâm sàng, chăm sóc, giao tiếp, đạo đức nghề); tăng thời lượng thực hành - thực tập theo mô hình “học trong môi trường làm việc”, chuẩn hóa nhật ký kỹ năng.

Hai là, số hóa toàn bộ vòng đời đào tạo, từ học liệu số, ngân hàng câu hỏi, LMS cho lý thuyết đến quản lý thực hành/thực tập bằng hồ sơ năng lực (e-portfolio). Đánh giá thường xuyên dựa trên năng lực (OSCE/mini-CEX phù hợp từng ngành), minh bạch hóa dữ liệu chất lượng.

CD Y te TB
Trường CĐ Y tế Thái BÌnh

Ba là, ứng dụng AI theo hướng trợ lý học tập và trợ lý nghề nghiệp. Tích hợp mô-đun “AI cơ bản trong y tế” (đọc - hiểu dữ liệu, đạo đức AI, bảo mật thông tin sức khỏe, tư duy phản biện với kết quả AI). Dùng AI để cá nhân hóa học tập: gợi ý lộ trình ôn tập, mô phỏng tình huống, phản hồi kỹ năng giao tiếp (theo kịch bản chuẩn). Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng, AI chỉ là công cụ hỗ trợ, quyết định chuyên môn vẫn phải dựa trên quy trình và trách nhiệm nghề nghiệp.

Bốn là, nâng cấp hệ sinh thái thực hành: mô phỏng - labo - bệnh viện liên kết. Nhà trường sẽ đầu tư phòng mô phỏng kỹ năng điều dưỡng, cấp cứu, kiểm soát nhiễm khuẩn…; tăng “ca bệnh mô phỏng” trước khi đi lâm sàng; ký đặt hàng đào tạo theo nhu cầu nhân lực của bệnh viện, trạm y tế, cơ sở y tế, doanh nghiệp dịch vụ y tế.

Năm là, mở lối học tập suốt đời bằng các chương trình ngắn hạn, tích lũy tín chỉ. Thiết kế các chứng chỉ vi mô (micro-credentials): chăm sóc người cao tuổi, phục hồi chức năng cơ bản, kỹ thuật xét nghiệm cơ bản, tin học - số cho y tế…; cho phép người học “vừa làm vừa học”, quay lại nâng bậc kỹ năng theo từng giai đoạn nghề nghiệp.

TS. LÊ LÂM: Việc thay đổi tư duy, nhận thức về đổi mới và đột phá trong giáo dục nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng là định hướng và động lực để giáo dục nghề nghiệp phát triển, cung ứng nguồn lao động chất lượng và có kỹ năng tay nghề cao, đóng góp vào phát triển KT - XH.

CD Dai Viet
Giờ thực hành của học viên Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn

Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn lâu nay đã thực hiện đào tạo gắn với thị trường và nhu cầu lao động, đào tạo gắn với thực tế doanh nghiệp và đáp ứng với công nghệ sản xuất, dịch vụ hiện đại, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để rút ngắn khoảng cách từ lý thuyết đến thực hành, từ học ở trường đến thử việc có lương và làm việc chính thức để các em thực sự giỏi nghề.

Thời gian tới, nhà trường sẽ tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy. Trước tiên, đối với giảng viên, tiếp tục đầu phương tiện, cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo hiện đại, nâng cao chất lượng bài giảng qua đổi mới phương pháp giảng dạy. Đồng thời, yêu cầu đổi mới phương pháp học tập của sinh viên, biến sinh viên thành chủ thể trung tâm trong tiếp thu kiến thức ngành và tương tác thực tế một cách chủ động.

Chúng tôi cũng sẽ đẩy mạnh chuyển đổi số trong các dịch vụ đào tạo và ứng dụng AI vào các tài nguyên như giáo trình, bài giảng, thư viện và các hoạt động dự án học thuật chủ động. Đưa học nội dung về chuyển đổi số và ứng dụng AI thành học phần quan trọng nền tảng của chương trình đào tạo các ngành, từ đó giúp sinh viên có khả năng thích ứng, sáng tạo trong học tập và làm việc sau này.

Biến cơ hội chính sách thành chất lượng nguồn nhân lực

PV: Để có một nền giáo dục nghề nghiệp chất lượng, bên cạnh nỗ lực tự thân của các nhà trường, cần có sự đầu tư thỏa đáng của Nhà nước (coi đây là đầu tư cho tương lai), cùng sự đồng hành chặt chẽ của các doanh nghiệp (bởi chính họ là người hưởng lợi trực tiếp từ lực lượng lao động chất lượng cao). Soi chiếu vào các quy định hiện hành, ông/bà có kiến nghị gì để giáo dục nghề nghiệp hoàn thành sứ mệnh của mình, đóng góp vào sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng tầm vị thế quốc gia?

PGS. TS. BÙI VĂN HƯNG: Để GDNN thực sự hoàn thành sứ mệnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cần sự vào cuộc đồng bộ của 3 nhà: Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.

2m8a0651.jpg
Giờ thực hành của học viên Trường CĐ Kỹ nghệ II

Trước hết, Nhà nước cần tiếp tục ưu tiên đầu tư cho GDNN theo hướng coi đây là đầu tư cho tương lai, tập trung vào các ngành, nghề trọng điểm, công nghệ cao. Bên cạnh đó, có cơ chế, chính sách đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình đào tạo, từ xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo đến tổ chức thực hành, thực tập và tuyển dụng, qua đó hình thành mối liên kết thực chất, bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp vì quyền lợi người học.

Về thể chế, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về tự chủ cho cơ sở GDNN đi đôi với trách nhiệm giải trình; tạo điều kiện linh hoạt trong cập nhật chương trình, ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là chuyển đổi số và AI, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và từng bước nâng tầm vị thế của GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Đối với các cơ sở GDNN, Nghị quyết 71 và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) vừa là cơ hội lớn, vừa là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ. Riêng Trường CĐ Kỹ Nghệ II, đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ từ năm 2016, chúng tôi xác định phải chủ động đổi mới chương trình, đặc biệt là tiếp tục đào tạo nhân lực các ngành nghề theo chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế như Đức, Australia, Nhật Bản… đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH trong giai đoạn mới.

TS. LÊ LÂM: Chúng tôi đặt niềm tin rất lớn vào chủ trương, định hướng từ Nghị quyết 71; đồng thời kỳ vọng về những chính sách của nhà nước trong phát triển giáo dục nghề nghiệp đã quy định trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) và Nghị quyết 248 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo sẽ sớm được thực thi, cụ thể hóa trong Nghị định của Chính phủ và các thông tư liên quan của bộ, ngành chủ quản.

Vấn đề đất đai xây dựng trường là trở ngại lớn nhất phải sớm tháo gỡ, như hỗ trợ giao, cho thuê đất, miễn giảm tiền thuê đất, miễn thuế đất. Cho phép các trường được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi lãi suất từ Chính phủ dài hạn 20 - 30 năm. Đối với hợp tác doanh nghiệp, nhà trường được tự chủ trong đào tạo đặt hàng và sử dụng lao động tại doanh nghiệp, hợp tác khai thác cơ sở vật chất và tài nguyên của hai bên trong phối hợp đào tạo nhằm đạt chất lượng cao nhất. Doanh nghiệp tham gia có sự ưu đãi một phần về thuế hoặc cũng được hưởng chính sách về nguồn vốn vay đầu tư lãi suất ưu đãi.

Đề nghị cụ thể hóa hơn quyền của các trường trong tự chủ học thuật như xây dựng chương trình đào tạo mang tính mới, sáng tạo, đi trước nhu cầu và đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong tương lai của ngành học đối với xã hội và ngành nghề thực tế…

ĐBQH NGUYỄN THỊ THU DUNG: Tôi xin nêu 6 nhóm kiến nghị trọng tâm. Thứ nhất, coi đầu tư cho GDNN là đầu tư phát triển dài hạn, ưu tiên ngành “thiết yếu” như y tế. Cần cơ chế ngân sách trung hạn cho thiết bị thực hành, phòng mô phỏng, chuyển đổi số. Có chương trình mục tiêu cho các trường nghề trọng điểm quốc gia, theo vùng, theo ngành.

Thứ hai, có cơ chế “đặt hàng - giao nhiệm vụ - đấu thầu đào tạo” gắn đầu ra việc làm. Nhà nước và địa phương đặt hàng theo thiếu hụt nhân lực (điều dưỡng, kỹ thuật y học, chăm sóc dài hạn…). Hỗ trợ chi phí thực tập lâm sàng, vì đây là “điểm nghẽn” lớn của khối y tế.

Thứ ba, khuyến khích doanh nghiệp/bệnh viện tham gia thực chất bằng ưu đãi rõ ràng. Ưu đãi thuế/chi phí hợp lý cho đơn vị tiếp nhận thực tập, tham gia xây dựng chương trình, đồng hành đào tạo và đánh giá kỹ năng. Có cơ chế công nhận “người hướng dẫn tại cơ sở” (clinical preceptor) như một phần đóng góp chuyên môn.

Thứ tư, nâng cao chất đội ngũ nhà giáo và chuẩn hóa năng lực số. Có cơ chế thu hút chuyên gia thực hành giỏi từ bệnh viện/doanh nghiệp tham gia giảng dạy bán thời gian. Bắt buộc bồi dưỡng năng lực số và phương pháp sư phạm thực hành; có quỹ hỗ trợ nghiên cứu - đổi mới phương pháp dạy học.

Thứ năm, bảo đảm chất lượng theo chuẩn đo lường được. Kiểm định phải đi vào năng lực người học, tỷ lệ có việc làm, mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng lao động. Xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về kỹ năng - việc làm kết nối GDNN.

Thứ sáu, tạo đường liên thông linh hoạt và thực chất. Liên thông giữa GDNN và giáo dục đại học theo nguyên tắc công nhận tín chỉ, công nhận năng lực; giúp người học có lộ trình phát triển nghề nghiệp dài hạn.

Và điều tôi muốn nhấn mạnh là, Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn; nhiệm vụ tiếp theo là ban hành văn bản hướng dẫn rõ ràng, phân bổ nguồn lực đủ và giám sát triển khai đến nơi đến chốn để biến cơ hội chính sách thành chất lượng nguồn nhân lực trong thực tiễn.

- Xin cảm ơn ông/bà!

    Nổi bật
        Mới nhất
        Cơ hội rộng mở cho giáo dục nghề nghiệp
        • Mặc định