Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải đi cùng công cụ quản lý rủi ro
Góp ý về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ sáng 7/8, Đoàn ĐBQH các tỉnh Nghệ An, Lâm Đồng đề nghị việc đơn giản hóa thủ tục phải đi cùng cơ chế kiểm soát rủi ro, bảo đảm sử dụng hiệu quả tài sản công, tính liên tục của dịch vụ thiết yếu; đồng thời tháo gỡ những vướng mắc trong định giá, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Bảo đảm cạnh tranh, sử dụng hiệu quả tài sản công
Qua nghiên cứu dự thảo Luật, Tờ trình và Báo cáo thẩm tra, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) cơ bản tán thành mục tiêu cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và luật hóa các cơ chế đặc thù đang được áp dụng.
Theo đại biểu, các nội dung sửa đổi liên quan trực tiếp đến tài nguyên tần số vô tuyến điện - tài sản công có giá trị kinh tế lớn; quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp; cạnh tranh trên thị trường viễn thông; an ninh, an toàn hạ tầng số và tính liên tục của dịch vụ thiết yếu... Vì vậy, cải cách thủ tục phải được thực hiện theo nguyên tắc bỏ điều kiện không cần thiết nhưng không bỏ công cụ quản lý rủi ro.

Góp ý Điều 1 về sửa đổi, bổ sung Luật Tần số vô tuyến điện, đại biểu tán thành có điều kiện việc kéo dài thời hạn cấp phép lần đầu từ 3 năm lên 5 năm và thực hiện đánh giá trước khi hết hạn 9 tháng. Theo đại biểu, thời hạn 5 năm phù hợp hơn với chu kỳ xây dựng, khấu hao, đánh giá vận hành mạng viễn thông và thu hồi vốn đầu tư.
Tuy nhiên, không nên chỉ kéo dài thời hạn mà không hoàn thiện cơ chế kiểm soát, bởi đây là trường hợp doanh nghiệp được cấp trực tiếp quyền sử dụng một tài nguyên quốc gia hữu hạn, có giá trị thương mại lớn mà không thông qua đấu giá hoặc thi tuyển.
Khoản 7 Điều 4 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công xác định phổ tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh, kho số viễn thông và tài nguyên Internet là tài sản công do Nhà nước quản lý. Do đó, theo đại biểu, việc cấp trực tiếp băng tần không đơn thuần là cấp giấy phép kinh doanh mà còn là giao quyền khai thác tài sản công.
Trong khi đó, dự thảo chưa quy định rõ nguyên tắc định giá lợi ích kinh tế từ phần băng tần sử dụng cho kinh doanh; cơ chế hạch toán riêng; việc ngăn ngừa sử dụng nguồn lực quốc phòng, an ninh để bù chéo cho hoạt động thương mại; trách nhiệm công khai, kiểm toán và giám sát hiệu quả sử dụng tài sản công.
.jpg)
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, đại biểu cho biết: khung pháp luật viễn thông của Liên minh châu Âu yêu cầu việc cấp quyền sử dụng tần số phải dựa trên các tiêu chí khách quan, minh bạch, thúc đẩy cạnh tranh, không phân biệt đối xử và tương xứng. Trường hợp phổ tần được cấp không qua thủ tục mở thì phổ tần đó không được sử dụng ngoài mục tiêu lợi ích công cộng làm căn cứ cho việc cấp.
Mạng FirstNet của Hoa Kỳ sử dụng phổ tần dành cho an toàn công cộng, với dải tần dành riêng, lõi mạng phục vụ an toàn công cộng, quyền ưu tiên và quyền chiếm trước tài nguyên mạng; lưu lượng an toàn công cộng luôn được ưu tiên hơn lưu lượng thương mại. Theo đại biểu, kinh nghiệm quốc tế cho thấy khai thác hạ tầng lưỡng dụng có thể được chấp nhận, nhưng mục tiêu công phải được bảo đảm bằng quyền ưu tiên kỹ thuật, chỉ tiêu định lượng và cơ chế giám sát thực chất.
Từ đó, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị bổ sung tại điểm d khoản 4 Điều 18 các nguyên tắc: việc cấp trực tiếp băng tần phải nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được xác định cụ thể trong đề án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; bảo đảm không có giải pháp khác ít hạn chế cạnh tranh hơn mà vẫn đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh; phần tài nguyên, dung lượng mạng và năng lực hạ tầng dành cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh phải chiếm tỷ lệ chủ yếu và được ưu tiên sử dụng khi có yêu cầu.
Đồng thời, cần nghiên cứu quy định doanh nghiệp phải hạch toán riêng tài sản, chi phí, doanh thu liên quan đến phần băng tần sử dụng cho kinh doanh; không sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh để bù chéo cho hoạt động thương mại.
Việc đánh giá sau thời hạn 5 năm, theo đại biểu, cần dựa trên các tiêu chí tối thiểu về mức sử dụng thực tế, vùng phủ, dung lượng, chất lượng và khả năng dự phòng; việc hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; hiệu quả đầu tư và tác động cạnh tranh.

Góp ý Điều 3, sửa đổi khoản 4 Điều 28 Luật Giao dịch điện tử, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú tán thành việc bỏ thủ tục gia hạn giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy.
Theo đại biểu, giấy phép dịch vụ tin cậy có thời hạn 10 năm; thủ tục gia hạn hiện chỉ giải quyết một số tình huống đặc thù trong thời gian ngắn, với thời hạn gia hạn 12 tháng, trong khi sau đó doanh nghiệp vẫn phải thực hiện thủ tục cấp lại. Việc duy trì đồng thời hai thủ tục làm tăng chi phí mà không thay thế được việc đánh giá lại điều kiện kinh doanh.
Tuy nhiên, khi bỏ thủ tục gia hạn, cần bổ sung cơ chế bảo đảm không làm gián đoạn dịch vụ trong thời gian hồ sơ cấp lại đang được giải quyết.
Tham khảo cơ chế eIDAS về dịch vụ nhận dạng, xác thực và tin cậy điện tử của Liên minh châu Âu, đại biểu cho biết: tổ chức cung cấp dịch vụ tin cậy đủ điều kiện phải được đánh giá sự phù hợp ít nhất 24 tháng một lần; cơ quan giám sát có quyền kiểm tra bất kỳ lúc nào và có thể rút tư cách cung cấp dịch vụ đủ điều kiện nếu vi phạm không được khắc phục.
Theo đại biểu, kinh nghiệm quốc tế không đặt trọng tâm vào “gia hạn hành chính”, mà dựa trên kiểm toán độc lập định kỳ, giám sát liên tục, thông báo thay đổi, kiểm tra đột xuất và rút quyền cung cấp dịch vụ khi không còn đáp ứng điều kiện.
Do đó, đại biểu đề nghị sửa khoản 4 Điều 28 theo hướng Chính phủ quy định chi tiết hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ tin cậy; quy trình, thủ tục, hồ sơ cấp, cấp lại, tạm đình chỉ, thu hồi giấy phép; việc thông báo thay đổi và chấp thuận trước đối với những thay đổi trọng yếu trong hoạt động cung cấp dịch vụ tin cậy. Các thay đổi cần được phân thành nhóm chỉ phải thông báo trực tuyến và nhóm phải được chấp thuận trước.
Về hiệu lực thi hành, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú tán thành quy định Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027, nhưng đề nghị bổ sung điều khoản chuyển tiếp.
Theo đại biểu, nếu thiếu quy định này sẽ phát sinh nhiều vướng mắc: giấy phép tần số đã cấp còn thời hạn có tiếp tục được sử dụng hay không; đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo thời hạn cũ sẽ thực hiện theo thời hạn 3 năm hay 5 năm; hồ sơ cấp hoặc cấp lại đã tiếp nhận nhưng chưa giải quyết sẽ áp dụng luật cũ hay luật mới; hồ sơ gia hạn hoặc thay đổi giấy phép dịch vụ tin cậy đang xử lý sẽ bị dừng hay chuyển sang thủ tục cấp lại.
Bên cạnh đó, cần làm rõ chứng chỉ vô tuyến điện viên và giấy công nhận tổ chức đủ điều kiện cấp chứng chỉ đã được cấp có tiếp tục còn giá trị hay không; các hợp đồng, thỏa thuận chia sẻ hạ tầng đang thực hiện theo cơ chế đặc thù có phải ký lại; doanh nghiệp đã nộp hồ sơ cấp lại nhưng giấy phép hết hạn trong thời gian giải quyết có phải dừng cung cấp dịch vụ hay không.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định chuyển tiếp trong dự thảo Luật để bảo đảm tính liên tục, ổn định khi các quy định mới có hiệu lực.
Gỡ vướng định giá, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Góp ý về nội dung sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ, ĐBQH Nguyễn Văn Ngọc (Lâm Đồng) cho rằng: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã mở ra nhiều cơ chế mới theo tinh thần Nghị quyết số 57, như trao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu theo tỷ lệ đóng góp, quyền quyết định phương thức thương mại hóa cho tổ chức chủ trì và quy định tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận.

Theo đại biểu, đây là những cơ chế tạo động lực quan trọng đối với các tổ chức khoa học và công nghệ, nhà khoa học và người nghiên cứu.
Tuy nhiên, khi viện, trường, tổ chức khoa học và công nghệ hoặc nhà khoa học thực hiện chuyển giao kết quả nghiên cứu, các quy định về định giá, hợp đồng và đăng ký chuyển giao hiện chủ yếu được thiết kế cho hoạt động mua bán dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp, chưa phù hợp với việc chuyển giao quy trình công nghệ, bí mật công nghệ và các tài sản trí tuệ khác.
Theo đại biểu, nhiều cơ sở nghiên cứu có kết quả nhưng gặp khó khăn trong định giá để ký hợp đồng chuyển giao do thiếu phương pháp phù hợp. Đặc biệt, khi tổ chức công lập sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp, việc định giá không chính xác có thể làm phát sinh trách nhiệm liên quan đến thất thoát tài sản công.

Những vướng mắc về định giá và thủ tục chuyển giao đang trở thành rào cản đối với quá trình thương mại hóa, khiến nhiều kết quả nghiên cứu vẫn “nằm trong ngăn kéo”, chưa được chuyển thành tài sản và nguồn lực cho phát triển.
Vì vậy, ĐBQH Nguyễn Văn Ngọc đề nghị rà soát toàn diện Luật Chuyển giao công nghệ, bảo đảm thống nhất với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 về quyền sở hữu, định giá và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

